Tượng đài (HG) 3/3

Đồng đội viết

 

TƯỢNG ĐÀI (3/3)
(tiếp theo và hết)


Đoàn Đức Chính

 

Tiếng xe nhà binh rú lên ghê người. Út Hiền trằn trọc không ngủ. Không biết giờ này Sáu Thanh ở đâu? Nghe nói Tây nguyên đánh lớn lắm, không thấy tin tức gì của anh. Trời ơi nếu anh mệnh hệ gì thì mẹ con cô sẽ sống ra sao. Không biết anh đã nhận được thư của cô chưa. Cô đã báo tin cho anh biết rằng cô đã có thai. Hai người cưới nhau được hơn một năm mà thời gian sống bên nhau chưa đầy hai chục ngày. Tám tháng trước, anh tranh thủ về thăm cô. Ngủ nhà một đêm, sáng sau lại đi ngay. Cái đêm ấy anh đã gửi lại giọt máu của anh trong cô. Chẳng bao lâu nữa dứa con của hai người sẽ chào đời. Út Hiền với tay bật công tắc đèn. Căn phòng hạnh phúc của vợ chồng cô không lớn, chỉ vừa kê một chiếc giường đôi, một chiếc bàn trang điểm và một giá sách ngăn căn phòng ra làm hai, nửa ngoài dùng làm phòng khách. Bên nhà Sáu Thanh, các anh chị đã xây dựng gia đình nhưng vẫn ở chung, nên cũng khá chật. Sáu Thanh đi biền biệt suốt nên hai bên gia đình đồng ý để út Hiền ở bên ngoại. Chồng đi vắng, ở nhà với ba má cô cảm thấy đỡ buồn hơn. 
Út Hiền trở dậy, tới bên giá sách. Cô rút cuốn nhật ký của Sáu Thanh. Đây là cuốn nhật ký thứ sáu của anh. Cô thường có thói quen đọc nhật ký của chồng vào tối thứ bấy hàng tuần. Công việc thường ngày của giáo viên không mấy bận rộn, nhưng cô muốn được sống cùng anh vào đêm thứ bẩy như ngày hai người mới yêu nhau. Cô đến bên bàn, lật trang nhật ký đang đọc dở ra đọc.
C... ngày 24 tháng 12 năm 1973.
Lại thêm một bằng chứng nữa về VC. Đó là một bầy trẻ nhỏ và mấy ông bà già người Thượng. Sau mấy ngày lùng sục của bọn TB, những VC này bị đưa về để khai thác...
- Ngày 25 tháng 12 năm 1973 hành quân lên BMT. Bị phục kích. Hai thằng M 48 bị dính mìn. Đụng độ với T 54. Cháy thêm một thằng M48 nữa. Họ gần quá, lậy chúa, may mà thoát chết. Chúa ơi đêm Noel kinh hoàng...
- 15 tháng 1 năm 1974.
Vậy là sắp đến tết rồi, lệnh cấm trại. Đêm nay sao mà im lặng thế. Trời không một vì sao. Nhìn mãi về phía Sài Gòn mà không thấy quầng sáng thân quen. Giờ nay em đang làm gì. Cái gì sẽ đến với anh trong những ngày tới. Chúa ơi! xin người hãy cho con sự bằng an. 
Ngày 17 tháng 1 năm 1974.
Ơn chúa đã che chở cho con. Họ đánh giữ quá trời. Sở chỉ huy tan tành. Tất cả chìm trong lửa. Mạnh ai nấy chạy. Toàn tiểu đoàn không kịp nổ máy. Sáng qua mình được lệnh vào kiểm tra chiếc T 54 bị bắn cháy, chuẩn bị bốc về Sài Gòn để quảng cáo chiến công. Họ rút cả rồi. Lũ F105 đang oanh tạc khu rừng phía ngoài. Họ có 4 người, đạn chống tăng thiêu cháy. Không hiểu sao một người còn dính mảng áo ngực. Chúa ơi! trong túi áo anh ta có bức hình một cô gái được gói trong một tờ giấy viết. Tụi mình làm dấu thánh cầu nguyện cho họ. 
Tư Hòa hỏi :
Làm sao giờ anh Sáu?
Chôn họ thôi! họ chết rồi. Đừng để mấy ông hành họ thêm nữa.
- Đưa họ sang mé đồi bên kia đi anh Sáu, để gần đây đạn pháo lại cầy tung lên mất. – PLinh nói.
Mấy anh em cuốn họ bằng những mảnh dù rồi vác sang sườn đồi phía bắc, đào vội những cái hố. Lấp đất vội vàng. Tư Hòa lầm rầm khấn:
- Lậy mấy ông. Mấy ông phù hộ cho anh em tôi thoát khỏi cuộc chiến này. 
11 giờ 30, trực thăng tới. Mấy thằng sợ không dám hạ cánh, chỉ thòng cáp xuống. Bọn mình móc cáp xong. Trực thăng chuồn thẳng về hướng Sài Gòn.
Mấy cha hỏi mình về xác những VC trong chiếc T 54. Mình bảo:
- Trúng đạn chống tăng Hoa Kỳ, cháy thui. Động tới vỡ vụn thành bột. hót đổ cả ra ngoài. Sợ đưa về Sài Gòn, dân báo chí thấy lại la lối ầm lên. Mấy ông tới coi kẻo gió bay hết.
Mấy anh em đã bảo nhau cùng nói như vây, mấy cha chẳng hỏi thêm gì...
Út Hiền trút tiếng thở dài. Cả một trang tiếp của cuốn nhật ký, Sáu Thanh vẽ sơ đồ khu vực diễn ra trận đánh. Trên sườn đồi ở ngoài căn cứ, bên cạnh một gốc cây có vẽ bốn ngôi sao. Út Hiền hiểu đó là mộ của bốn người lính giải phóng trong chiếc xe tăng được chôn ở đó. Dưới trang viết, Sáu Thanh ghi:

May ra sau này họ được tìm thấy và đưa về MB.
Đêm 20 tháng 2.
Mấy ngày này đi suốt, đi bộ mỏi rã rời, may mà không gặp VC. Vẫn chưa nhận xe mới. Chắc bọn M muốn cảnh cáo bọn mìnhvì cả tiểu đoàn M 48 chẳng còn lấy một chiếc.
Giờ mới có thời gian nhìn kỹ bức hình. Trẻ quá, cũng chỉ cỡ tuổi út Hiền. Tội nghiệp, vậy là cô không bao giờ gặp lại người thân nữa. Không biết cô là vợ hay là người yêu của anh ấy. Chúa ơi! nếu mình cũng bị trúng đạn như mấy người lính VC kia thì út Hiền sẽ ra sao? sẽ giống như cô gái này thôi. Chúa hãy che chở cho con... 
Thật bất ngờ, mảnh giấy học trò bọc hình cô gái lại là một phác thảo nhóm tượng đài...
Ôi chiến tranh. Hỡi anh lính VC mà tôi không quen biết, Thần chiến tranh đã gọi anh về. Người thân của anh sẽ không bao giờ gặp lại anh. VC là những con người như anh sao? Nếu không có chiến tranh thì các anh và cả tôi nữa sẽ có ích cho đời biết bao.
Khi nào mình mới trút bỏ bộ đồ này? Sau chiến tranh, nếu còn sống, mình sẽ đi tìm và trao lại cho người thân của anh ấy.
Út Hiền run run lật mở tờ giấy gói bức hình. Cô đọc những dòng chữ nhỏ phía sau bức hình : Đi đâu nhớ cho em đi với Hoàng ơi! Út Hiền bật khóc nức nở. Cô xót xa cho người con gái đất Bắc. Rồi cô hốt hoảng nghĩ đến Sáu Thanh. Cô vội vàng đưa tay lên làm dấu thánh.


Viếng mộ

Chiếc xe khách ì ạch bò lên đèo. Chiến tranh qua đi đã năm năm rồi. Rừng đã dần xanh trở lại. Những hố bom loang lổ đang được thay bằng mầu xanh của cỏ. Dấu tích chiến tranh nơi đây chỉ còn thấy trên mặt những con đường. Những hố đạn được lấp vội bằng đất, bằng đá vụn. Mấy mùa mưa qua đi, những cái hố bị xe cầy xới lại lở lói thêm ra. Chiếc xe dừng lại giữa đỉnh đèo. Một người đàn ông tóc quăn, da nâu đen đeo trên lưng chiếc ba lô con cóc, tay xách chiếc làn nhựa, bước xuống xe. Anh đặt chiếc làn xuống đất, rồi quay lại giơ hai tay đón một đứa bé chừng bốn năm tuổi đang định nhẩy từ trên bậc xe xuống đất. Một thiếu phụ bước xuống xe rồi chạy vội ra vệ dường ngồi sụp xuống hai tay ôm lấy bụng. Tiếng người lơ xe vang lên : “ đi thôi, đi thôi!”. Chiếc xe rồ máy lao đi, để lại vệt khói đen xì, khét lẹt mùi dầu. Người đàn ông đến bên thiếu phụ hỏi:
Say lắm sao chị Sáu. Gắng chút nữa là tới nhà thôi!
Thiếu phụ gắng gượng đứng lên. Họ rẽ xuống con đường mòn. Đứa bé thích thú nhẩy chân sao trên đường. Đây là lần đầu nó được thấy cảnh núi rừng. Ở Sài Gòn, ngoại hay đưa nó đi Thảo Cầm Viên, nhưng ở đấy không có nhiều cây như ở đây. Người đàn ông nhắc nó:
Coi chừng té đó Hai Bình!
Thiếu phụ khẽ hỏi người đàn ông:
Từ nhà tới nơi anh Sáu nằm có xa không anh?
Đi chừng ba tiếng là tới thôi chị Sáu à!
Vậy còn nơi mấy người lính giải phóng?
Cũng gần nơi anh Sáu đó. Như vậy có được không chị Sáu?
Dạ được!
- Mấy hồi còn sống, anh Sáu cứ nhắc tụi tôi hoài về mấy người lính giải phóng đó. Ảnh ân hận như chính mình là người bắn vào chiếc xe đó. 
- Ảnh vậy đó. Trong nhật ký ảnh cũng nhắc hoài tới chuyện đó. Ảnh viết nếu còn sống sau chiến tranh, sẽ tìm gặp người thân của mấy ổng để đưa về Bắc cho đỡ tội nghiệp. Tây Nguyên bị thất thủ, em cứ lo hoài. Tư Hòa về Sài Gòn chỉ kịp báo tin ảnh bị tử trận. Em chưa kịp hỏi ảnh nằm đâu thì Tư Hòa đã đi rồi. May mà có anh đó, anh PLinh à!
- Ngày đó bọn tôi chạy dài. Mấy thằng chỉ huy ra lệnh quay lại tái chiếm. Anh Sáu phản đối liền bị bọn chúng bắn luôn. Tôi và Tư Hòa điên lên bắn chết mấy thằng rồi đưa anh Sáu đi. Bọn tôi khóc muốn hết nước mắt. Mấy hồi còn sống, anh Sáu có nói: “ Nếu chẳng may mình tử trận thì anh em ráng đưa về chôn gần mấy anh giải phóng cho có bầu có bạn, nhưng nhớ để mình quay nhìn về Sài Gòn, vì nơi đó còn có gia đình, vợ con mình”. Tụi tôi đưa anh Sáu về đó và làm đúng theo lời ảnh dặn. Sau đó tư Hòa về Sài Gòn, còn tôi vào rừng sống vất vưởng. Cho tới khi Sài Gòn giải phóng, tôi ra trình diện, đi học tập cải tạo ba năm. Trở về buôn mới biết tin vợ tôi bị Phun rô bắn chết trên nương, để lại cho tôi thằng con cũng tầm thằng nhỏ này đó.
- Cháu tên gì hả anh?
- PLin, thằng nhỏ tên là PLin.
- Má ơi! con đau chân quá.
- Đau chân rồi hả? để chú cõng con nào – PLinh đến bên thằng bé. Anh đeo chiếc ba lô về phía trước rồi ngồi xuống để thằng nhỏ bám lên lưng.
- Anh đưa làn đây em xách đỡ.
- Không cần, chị Sáu đi không đã mệt rồi, còn mang vác sao nổi.
PLinh đứng dậy, một tay đỡ mông đứa bé, một tay xách làn. Anh chạy nhong nhong làm thằng bé cười như nắc nẻ.
Họ dừng lại nghỉ bên một dòng suối. Nước suối trong vắt, róc rách chảy quanh những tảng đá. Út Hiền cúi xuống lấy hai tay vốc nước vã lên mặt. Dòng nước mát lạnh làm cô tỉnh cả người. Trên kia, PLinh và con trai cô đang đùa với nhau, tiếng cười của hai chú cháu nghe giòn tan.
- Đã đi được chưa anh PLinh, còn xa lắm không? – út Hiền hỏi với lên.
- Không xa nữa đâu, ở nơi có ngọn khói trắng kia thôi. Nghỉ cho đỡ mỏi chân rồi hãy đi – Tiếng PLinh lẫn trong tiếng nước reo.
Út Hiền nhìn lên lưng núi, thấy thấp thoáng trong lùm cây một mái nhà tranh. Một làn khói trắng bay lên rồi tản dài ra theo chiều gió.

Ba người bước vào sân. Mấy con chó thấy chủ về chạy ra mừng rối rít. PLinh cất tiếng gọi:
PLin à! có nhà không?
- Cha, cha về rồi à?
Một đứa bé mặc độc chiếc quần đùi, mái tóc vàng hoe quăn tít, hai mắt to tròn, da đen bóng từ trong nhà chạy ra. Vừa chạy cậu vừa hét lên sung sướng. Nó chợt đứng sững lại vì thấy người lạ, mắt sáng lên khi nghe cha nói.
- Đây là cô Út Hiền, vợ bác Sáu Thanh. Còn đây là Hai Bình, con trai bác Sáu Thanh đó. Hai Bình này, đây là PLin con trai chú!
Hai Bình tiến đến bên PLin, chìa tay ra, nó nói:
Chào PLin.
PLin chẳng nói gì, lẳng lặng vào bếp, lấy ra một củ khoai nướng. Nó bẻ đôi củ khoai, đưa cho Hai Bình một nửa rồi nói:
Ăn đi, đói dữ rồi hè?
- Hai Bình cầm lấy nửa củ khoai, bóc vỏ ăn ngon lành. Hai đứa kéo nhau ra ngoài. Út Hiền nhìn theo hai đứa trẻ, nói:
- Chóng quen nhau quá hà.
- Chúng nó hiểu nhau rồi đó – PLinh gật đầu nói.


PLinh dậy rất sớm. Anh bắc nồi nấu xôi, rồi bắt hai con gà trống làm thịt. Đây không phải là lần đầu tiên PLinh làm cỗ cúng mộ Sáu Thanh và mộ mấy người lính giải phóng. Từ khi đi cải tạo về, PLinh đã nghĩ ngay đến việc làm nhà mồ cho Sáu Thanh và mấy người lính giải phóng. PLinh nghĩ chắc rằng bây giờ các anh ấy đã là bạn bè của nhau rồi. Người chết đi rồi thì mọi hằn thù chắc sẽ không còn nữa. Ngày còn sống, Sáu Thanh đã nhiều lần nói với anh về cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc. Nói về sự can thiệp của quân đội Mỹ vào công việc nội bộ của người dân Việt Nam. Có lần Sáu Thanh và anh đã bàn nhau chạy trốn sang bên kia, nhưng nghĩ đến sự trả thù của quốc gia sẽ đến với vợ con, gia đình nên lại thôi. Sáu Thanh luôn cầu nguyện sao cho cuộc chiến sớm kết thúc, anh thường nói với PLinh và mấy anh em thân thiết : “ Mình cố gắng đừng gây thêm tội ác với đồng bào mình, làm được việc gì có ích thì hãy cố gắng làm...”. Khi nào PLinh cũng thấy Sáu Thanh buồn rầu như người có lỗi. Sau lần mấy anh em chôn được xác những người lính giải phóng trong chiếc xe tăng, PLinh mới thấy Sáu Thanh đỡ buồn hơn. PLinh hiểu lòng Sáu Thanh đã hướng về phía bên kia. 
PLinh cặm cụi một mình lấy gỗ dựng nhà mồ, làm lễ bỏ mả cho các anh. PLinh cẩn thận đẽo gọt những pho tượng nhà mồ để các anh có thêm nhiều bạn bè.

Đêm qua lạ nhà khó ngủ, Út Hiền nghĩ miên man biết bao chuyện. Năm năm qua đi rồi, cô khóc thương chồng đến cạn nước mắt. Giá như ngày ấy cô kiên quyết ngăn anh không cho vào lính thì bây giờ đâu bị mất anh. Sáng mai, cô và con trai sẽ lên viếng mộ anh. Cô gọi khẽ: “ Sáu Thanh ơi! mẹ con em đến thăm anh đây. Cảm ơn anh đã có người bạn tốt như anh PLinh, nếu không có anh ấy thì em làm sao mà tìm được anh”. Út Hiền mơ thấy Sáu Thanh đang say sưa vẽ bên bờ sông Sài Gòn. Hai mẹ con cô đứng lặng yên nhìn anh vẽ. Sông Sài Gòn lấp lánh ánh hoàng hôn. Sáu Thanh dừng bút vẽ. Anh quay lại ôm lấy hai mẹ con cô mà hôn tới tấp. Thế rồi ánh chớp lóe lên cùng với một tiếng nổ đanh gọn vang lên. Sáu Thanh gục ngã, máu từ ngực anh nhuộm đỏ cả áo hai mẹ con cô. Cặp mắt dữ tợn của thằng chỉ huy vằn lên những tia máu đỏ cứ nhìn thẳng vào mẹ con cô. Bức vẽ hoàng hôn trên sông Sài Gòn của anh nhuộm đầy máu. Út Hiền choàng tỉnh, ngoài kia có ánh lửa bập bùng. Cô ngồi dậy nhìn ra thấy PLinh đang lúi húi bên bếp lửa. Cô lặng lẽ bước đến bên anh:
Anh PLinh dậy lâu chưa? em đoảng quá, để anh phải lo mọi việc.
- Sao chị Sáu không ngủ nữa, đi đường xa còn mệt mà.Tôi chỉ làm một loáng là xong thôi. Nhà không còn người phụ nữ, tôi làm mãi thành quen rồi.
- Sao anh không về ở hẳn trong buôn?
- Ngày còn sống chui lủi trong rừng, chờ đợi mãi mới gặp được vợ tôi tôi đi làm nương. Cô ấy bảo làm cái lán để ở. Hàng ngày cô ấy tiếp tế cho. Khi tôi đi cải tạo, mẹ con cô ấy vẫn ở đây chơ tôi trở về. Thế rồi cô ấy bị Phun rô bắn chết ngay trên nương. Tôi không muốn xa nơi đây, hai cha con dựng nhà này ở từ đó tới giờ.
- Anh cứ định sống thế này mãi sao? Còn tương lai của cháu PLin nữa chứ. Cháu cũng đến tuổi đi học rồi còn gì?
- Gần năm nữa cháu sẽ đi học, đến lúc ấy tôi sẽ gửi cháu về buôn. Đời tôi không biết cái chữ thấy khổ lắm. Mấy năm sống cùng anh Sáu. Anh Sáu dậy chữ, nói cái đúng cái sai, tôi tỉnh ra nhiều lắm.
- Hay anh để em đưa cháu PLin về Sài Gòn học. Như thế anh đỡ vất vả mà cháu đỡ bị thiệt thòi.
- Được thế thì tốt quá, nhưng cháu còn dại lắm, sợ chị Sáu vất vả thêm nhiều. Mà rồi chị Sáu cũng phải nghĩ đến cuộc sống lâu dài nữa chứ, không lẽ cứ sống...
- Em nghĩ kỹ rồi. Em sẽ sống một mình để nuôi cháu nên người. Ngoài anh Sáu ra, em không còn một ai khác cả. Anh yên tâm đi, em sẽ coi PLin như con trai em. Có PLin về cùng sống, Hai Bình chắc sẽ thích lắm.
- Thôi được rồi, chuyện đó sẽ bàn sau. Giờ cô út vào gọi các cháu dậy, chuẩn bị xong là ta đi.
Hai đứa bé nắm tay nhau vừa chạy vừa cười vẻ thích thú. Đêm qua hai đứa nằm bên Út Hiền, cứ rúc rích nói chuyện rồi ôm nhau ngủ lúc nào không biết. Hai Bình trắng trẻo, áo quần lành lặn đẹp đẽ. Còn PLin da đen bóng, mặc độc chiếc quần đùi. Hai đứa nói với nhau bằng lời và cả bằng động tác tay chân, vì vốn liếng tiếng Kinh của PLin được bố dậy cho chẳng mấy mà cạn. Út Hiền xách chiếc làn nhựa đựng những thứ cô mang từ Sài Gòn lên. Còn PLinh gùi một gùi đầy những xôi, gà, gạo, rượu...
Út Hiền nhào tới ôm lấy mộ chồng, cô vật vã khóc. PLinh đứng lặng người, nước mắt lăn dài trên má. Hai Bình thấy mẹ khóc liền nhà tới lay gọi:
Má ơi! sao má lại khóc. Mộ ai đây hả má?
Mộ ba con đó, con lậy ba con đi!
Sao ba lại ở đây hả má? bao giờ ba về?
- Trời ơi con tôi. – Út Hiền lại òa khóc – Anh Sáu ơi! con trai của anh đây. Nó còn bé quá chưa biết gì đâu anh ơi! Anh ráng phù hộ độ chì cho con nên người...
PLin kéo tay Hai Bình. Nó đưa Hai Bình đi xem những pho tượng nhà mồ mà ba nó đã làm. Hai Bình thích thú ngắm những pho tượng gỗ có hình thù kỳ lạ đặt quanh khu mộ ba nó. Gió rừng xào xạc thổi. Mùi hương trầm lan tỏa. PLinh chắp tay kính cẩn vái ba vái trước mộ Sáu Thanh, lầm rầm nói:
- Anh Sáu ơi! Hôm nay tôi đã đưa được vợ con anh lên thăm anh đây. Anh hiểu cho, vì hoàn cảnh, tôi không thể làm sớm hơn được. Những điều anh dặn tôi cũng đã làm, nhưng tôi chưa thể tìm được người thân của mấy anh giải phóng...
Ngọn lửa bùng lên. Những xấp giấy tiền, vàng mã bắt lửa bốc cháy ngùn ngụt. Gió thổi mạnh đưa những tàn lửa bay lên cao. PLinh chắp tay vái dài rồi nói nhỏ:
- Anh Sáu! bây giờ tôi đưa chị Sáu và các cháu sang thắp nén nhang cho các ảnh.
Út Hiền chắp tay vái mộ chồng, cô nói trong tiếng nấc:
- Anh ơi! em sẽ nuôi dậy con nên người. Con chúng ta sẽ làm được những điều mà anh mong muốn. 
Bốn người men theo lối mòn đi lên sườn đồi phía bắc. Bốn ngôi mộ xếp thành một hàng ngang. Hàng rào gỗ chắc chắn vây quanh khu mộ. PLinh đốt hương cắm vào chân từng ngôi mộ, rồi lầm rầm khấn. Út Hiền đứng bên, chắp hai tay trước ngực, cô lặng lẽ cúi đầu...

Đoạn kết

Út Hiền run run nhấc tổ hợp điện thoại. Bà linh cảm thấy có điều gì hệ trọng sắp xảy ra. Mấy bữa nay ruột bà nóng như có lửa đốt. Không hiểu hai đứa con của bà - Hai Bình và PLin đang theo học ngoài đó có chuyện gì. Bà giật mình khi nghe giọng PLin reo to :
- Má! Má ơi con tìm thấy rồi!
Bà luống cuống hỏi lại:
- Tìm thấy rồi sao? Con nói cho má nghe đi con!
- Chuyện dài quá má à. Con đã tìm được những người thân của mấy chú giải phóng rồi đó má! Chuyện kỳ quá, đúng như những gì má đã tính. Chỉ ít bữa nữa, mọi người sẽ dô trỏng thăm má, rồi lên đón mấy chú dề Bắc đó má!
- Thiệt dậy sao con? – giọng bà lạc hẳn đi.
- Thiệt mà má! Có chuyện chi dậy má?
- Hổng có chuyện chi đâu con, má mừng quá. Các con ngoài đó có mạnh giỏi không? 
- Dạ, chúng con mạnh giỏi má à! 
- Các con ráng học cho giỏi, ráng giữ gìn nghe con. Thôi nghe con! má mừng quá...
Út Hiền buông máy. Nước mắt bà trào ra. Bà đi đến bên bàn thờ chồng, lặng lẽ thắp nhang rồi lầm rầm khấn :
- Anh ơi! các con chúng mình đã tìm được những người thân của mấy ảnh rồi. Các con đã thực hiện được những điều anh hằng mong muốn. Chẳng mấy nữa đâu, người thân của mấy ảnh sẽ vô đón họ về Bắc. Anh những muốn được nằm bên họ cho có bạn có bầu phải không anh? Đã bao lần em cùng các con tính đón anh về Sài Gòn cho gần nơi ba má, để anh đỡ tủi. Nhưng nghĩ tới những lời anh dặn lại anh PLinh, má con em lại không nỡ làm điều đó. Mai mốt họ đi xa rồi, anh nằm đó một mình, má con em yên tâm sao được. Chừng đó, anh cho phép má con em đón anh về Sài Gòn nghe anh!
Út Hiền gục xuống nức nở. Trong đầu bà hiện ra cảnh hai hàng tiêu binh quân phục chỉnh tề đứng nghiêm bồng súng chào. Những chiếc quan tài phủ cờ đỏ sao vàng chầm chậm lướt qua. Trên sườn đồi cạnh đó, Sáu Thanh và PơLinh đang giơ tay vẫy vẫy. Bà vội vàng chạy về phía hai người.

 

Hương Canh 1975 - 1976
Hòn Gai 2000 - 2005

 

LSV (g/th) 

 

***********

Xem tiếp tại đây:

Tượng đài (HG) 1/3: http://linhsinhvien.vnweblogs.com/a303100
Tượng đài (HG) 2/3: http://linhsinhvien.vnweblogs.com/a303101
Tượng đài (HG) 3/3: http://linhsinhvien.vnweblogs.com/a303102

Vũ Trung Kiên

Lính ta làm gi cũng giỏi

Đọc  chuyện của Hoài Giang mà nhiều lúc nước mắt cứ chảy dài... đúng là "Một người lính, một nghệ sỹ nhiếp ảnh, một nhà văn, một nhà thơ...". Thật hãnh diện khi có một đồng đội ĐA TÀI !