Lỡ một cung đàn_1.5 (VCC)

21/06/2016,16:39:57 | 791 | 0

Đồng đội viết

LỠ MỘT CUNG ĐÀN (1)

Truyện ngắn của Vũ Công Chiến

(Nếu là vợ tôi, xin em đừng đọc truyện này)

 

 

Kết thúc chiến tranh, tôi còn đang khoác áo lính. Hai mươi hai tuổi đời, bốn tuổi quân. Cũng là bốn năm cầm súng trên chiến trường. Chưa có một người con gái nào gọi tôi bằng "anh", mà mỗi khi nhắc đến tên tôi, thì trái tim của người con gái ấy đập tăng lên được một nhịp.


Tôi nhập ngũ khi vừa học xong phổ thông, tuổi đời còn chưa tròn 18. Khoác áo lính rồi mà mặt còn búng ra sữa, ngây ngô, tồ tẹt. Tôi đã biết yêu đương là gì đâu. 


http://linhsinhvien.vnweblogs.com/js/tinymce/plugins/more/img/trans.gifBọn con trai trong lớp tôi, năm đó cùng lên đường nhập ngũ cũng đông. Đôi ba đứa, lúc lên đường vào bộ đội, đã có bạn gái cùng lớp tặng khăn tay có thêu hai con chim. Thế là chúng nó có điều để mà mong, để mà nhớ. Còn điều đó có phải là sức mạnh giúp cho họ vững vàng trong chiến đấu hay không, thì tôi không biết. Lúc lên đường vào chiến trường, tôi chỉ có mẹ để nhớ. Lúc từ biệt, tôi đã quỳ xuống trước mẹ tôi để tạ từ: "Nếu con không trở về, chỉ xin mẹ đừng buồn".


Suốt mấy năm chiến đấu, tôi vẫn luôn nhớ tới mẹ tôi. Nhưng rồi từ một lúc nào không rõ, khi ngồi trên điểm chốt, nhìn những cánh rừng xa xa mờ đi trong màn sương chiều giăng giăng quanh cao điểm, trong không gian tĩnh mịch và se se lạnh, tôi bắt đầu nghĩ vơ vẩn về những cô bạn gái trong lớp. Khi đó, tôi hình dung rõ hơn từng cử chỉ, tính cách của các bạn ấy, mà khi còn học thì nó chỉ lướt qua, mờ nhạt. Rồi dần dần, tất cả hội tụ lại thành một người con gái của riêng tôi, trong tưởng tượng của tôi thôi, nhưng không giống, và không phải là một bạn gái cụ thể nào cả.


Một vài năm trước khi tôi nhập ngũ, ở Hà Nội đã xuất hiện một số bài hát loại 'nhạc vàng" trong thanh niên, và cả người trung tuổi. Tuy bi cấm, song nhiều người vẫn hát. Khi tôi nhập ngũ, phải tập trung huấn luyện trong rừng, thì đám lính trẻ truyền nhau hát nhạc vàng nhiều hơn, dù không công khai. Chủ yếu là các bài hát về các cuộc tình, về sự chia ly của những người lính và người yêu trong chiến tranh. Lời ca không nói cụ thể về người lính ở phe nào, nên chúng tôi vận vào tình cảnh của mình thì cũng thấy hợp.


Những năm tháng chiến đấu trong Trường Sơn, tôi cũng được nghe nhạc vàng. Đó là những lúc cắm chốt, giữ cờ, nghe đài địch vọng sang. Hoặc có đợt luồn sâu, đánh nhau lấy được đài bán dẫn chiến lợi phẩm của địch, nhưng chưa có thời gian quay về nộp cho cấp trên. Thế là chúng tôi tạm giữ lại, và đêm xuống đem nghe nho nhỏ dưới hầm. Có nhiều bài hát, chỉ đơn giản nói về tâm trạng người lính lúc xa nhà, thủ thỉ đôi lời với người yêu, nhưng lại hợp với cảnh buồn, hợp với tình cảnh của lính. Thông qua lời của nhiều bài hát, mà tôi cũng tưởng tượng như là mình đang có một người bạn gái mong chờ. Những đêm mưa lất phất, lúc lầm lũi hành quân trên những con đường lầy bùn đất, ba-lô trĩu nặng, súng khoác trên vai, tôi lại hình dung như có một người con gái đang ngồi bên cửa sổ nhìn ra trời mưa đêm tối mà nghĩ đến mình. Tôi tâm đắc với tâm trạng là những người lính miệt mài nơi chiến trường, không giàu sang về vật chất, nhưng giàu tình cảm và thủy chung. Nếu có người con gái của mình, thì mình sẽ nguyện thủy chung, tôn thờ tình yêu đó và nguyện yêu suốt cả cuộc đời. Tôi cũng tự tưởng tượng ra một người con gái của mình như thế. Tuy vô hình, nhưng hình như nó cũng làm cho tôi đỡ buồn hơn, nhất là vào những đêm mưa giá lạnh.


Khát vọng về một tình yêu của những người lính thời trai trẻ cũng là một lẽ thường tình. Dọc ngang qua nhiều chiến trường, vượt được qua bao khó khăn, gian khổ và ác liệt, chúng tôi đã nghĩ là mình mạnh mẽ lắm. Chúng tôi thích cái lời bài ca: "Muốn quen để được đến (với) em; miền Trung tôi cũng kiếm, Hậu Giang tôi cũng tìm …". Chỉ cần có người con gái nào đó thông cảm với lính, cho mình làm quen, thì nơi đâu mà chúng tôi chẳng tìm đến được. Chúng tôi là lính mà. Thế nhưng, nghĩ vậy nhưng chính tôi lại không làm được như vậy. Tại một điểm dừng trên đường chinh chiến, tôi đã gặp được một người con gái yêu mình, mà mình lại không biết đón nhận tình yêu ấy.

*
* *
Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng của cuộc chiến kéo dài đằng đẵng 21 năm giữa hai miền Nam Bắc. Sáng 30 tháng tư năm 1975, trung đoàn chúng tôi tham chiến ở Bắc sân bay Tân Sơn Nhất. Bọn địch chống cự yếu ớt, tháo chạy và lũ lượt đầu hàng. Rồi Dương Văn Minh tuyên bố chính quyền Ngụy đầu hàng. Thế là Tân Sơn Nhất và mảnh đất Tân Thạnh trở thành cái đích cuối cùng mà chúng tôi đi được trong cuộc chiến tranh.


Sau hơn ba tháng đóng quân tại căn cứ cũ Đồng Dù của địch, tháng 8 năm 1975, Sư đoàn chúng tôi trở lại Buôn Ma Thuột. Chiến trường B3 (Tây nguyên) là địa bàn quen thuộc mà chúng tôi đã từng bám trụ chiến đấu suốt mấy năm chiến tranh. Trong lý lịch quân nhân của những người lính trong Sư đoàn chúng tôi sau này, đều có ghi ở mục sở trường, là "quen hoạt động rừng núi".


Chúng tôi được phổ biến nhiệm vụ lên Tây nguyên để "tiễu trừ Fulro". Chúng tôi hiểu đó là một loại "phỉ" người dân tộc Tây nguyên. Có điều, lực lượng của chúng không bé nhỏ, thưa thớt như lũ phỉ "Hà Giang" ngoài Bắc những năm 1960. Chúng có lực lượng rất đông, trang bị vũ khí tốt và đầy đủ như bộ binh chủ lực của ta. Chúng có cả bộ máy "Chính phủ Tự trị" điều hành. Cấp trên phổ biến là chúng thành lập được tới 6 Sư đoàn. Quả là mới nghe, chúng tôi cũng thấy choáng. Chúng lấy đâu ra người mà đông vậy. Hồi chiến tranh, Sư đoàn chúng tôi đánh địch ở quanh Pleiku; quân ngụy Sài Gòn chỉ có 1 trung đoàn chính qui, 2 liên đoàn Biệt động quân biên phòng, thế mà hai bên cầm cự nhau ròng rã năm này qua năm khác, đã bên nào hơn hẳn được bên nào đâu. Bây giờ bọn Fulro nhiều thế này thì đánh nhau thành chiến tuyến chứ "tiễu phỉ" gì nữa. 


Thực tế thì hoạt động của tụi Fulro đúng là kiểu phỉ. Chúng không lộ diện, mà thoắt ẩn, thoắt hiện đánh úp vào khu dân cư người kinh, hay phục kích các nhóm bộ đội ta đi công tác lẻ. Chúng theo đường 21 xuống tới đèo Phượng Hoàng, thậm chí xuống cả đường 1 ở nam Khánh Hòa. Đã có nhiều chuyến xe chở khách bị chúng tấn công trên đường cái, giữa ban ngày. Chúng đứng bên vệ đường chĩa AK nã đạn thẳng vào đầu xe khách chạy qua. Khi xe dừng lại, chúng lại gần bắn chết tất cả, không sót một ai, cướp đồ đạc, rồi chuồn vào rừng. Chúng lùng sục vào các nương rẫy của người kinh. Gặp dân, bất kỳ già trẻ, chúng đều giết một cách dã man: kê nòng súng vào miệng từng người rồi bóp cò.


Thế là chúng tôi trở lại Tây Nguyên. Chúng tôi đóng quân nhờ trong nhà dân. Trung đoàn chúng tôi ở khu vực phía Đông Thị xã Buôn Ma Thuột. Đại đội tôi trú quân tại một thôn, thuộc xã có tên là "Tình Thương", nằm kẹp tại ngã ba của hai con đường 21 và 23. Bao quanh xã là bạt ngàn các khu rừng cao su và cà-phê thuộc đồn điền cũ của một ông chủ người Tàu.


Tôi và một nhóm chiến sĩ của tiểu đội chủ công được ở nhờ trong một nhà dân rìa xóm, chỉ cách khu rừng cao su chưa đầy trăm thước. Gia đình người kinh này gốc Quảng Ngãi, lên đây sinh sống từ năm 1960. Ông chủ nhà tên là Miên, làm nghề mộc. Đất đai ở đây rộng rãi, nhà có đủ cả xưởng mộc, sân, vườn, giếng nước. Chủ nhà xếp hẳn cho chúng tôi một gian nhà gỗ rộng rãi nằm sát mé vườn, hướng thẳng ra cổng.


Chúng tôi hòa nhập với sinh hoạt của gia đình rất nhanh. Các gia đình trong này thường đông con hơn rất nhiều so với ngoài Bắc. Nhà ông thợ mộc có tới 6 người con, 4 trai và 2 gái. Thằng đầu 16 tuổi, còn cô gái út mới 6 tuổi. Tưởng thế là nhiều, nhưng bà chủ nhà cho biết là còn hai người con lớn nữa đang bận công chuyện nơi xa.

*
Liền trong mấy tuần đầu, chúng tôi tổ chức thành từng trung đội lùng sục theo dọc các con đường, vào các nương rẫy để tìm diệt bọn Fulro. Thi thoảng, chúng tôi còn tổ chức lực lượng lớn hơn, vào tận các Buôn nằm xa đường cái. Bất cứ người dân tộc nào có vũ khí đều là mục tiêu tiêu diệt của chúng tôi. Dần dà, chúng tôi biết rằng, cái con số 6 sư đoàn Fulro chỉ là hình thức. Chúng thành lập theo kiểu tổ chức từ trên xuống. Một số tên ban đầu được chỉ định làm "Sư trưởng". Sau đó tụi này lại tìm thêm người mới, và có quyền phong cho những tên mới này chức vụ "Trung đoàn trưởng". Tiếp theo, tụi chỉ huy này lại đi lôi kéo người khác, phong cho các chức vụ thấp hơn. Cứ như thế mà hình thành nên các đại đội, tiểu đoàn, nhưng thực lực thì chẳng có là bao. Vũ khí của chúng chủ yếu lấy từ các kho vũ khí của bộ đội ta trong rừng. Các kho này, do tốc độ giải phóng miền Nam trong năm 1975 quá nhanh, bộ đội ta không kịp chuyển đi, cũng chẳng quay về lấy. Thành ra tạo sơ hở cho bọn Fulro có nguồn cung cấp vũ khí. Có lần chúng tôi bao vây tiêu diệt cả một đại đội Fulro, mà thực ra chỉ có 8 thằng đóng khố.


Được một thời gian, tụi Fulro khôn hơn. Chúng không tập trung đông, mà chỉ tụ tập nhóm lẻ vài ba tên, hoạt động phá hoại ta theo kiểu du kích. Tìm diệt chúng khó hơn, nhưng cường độ hoạt động của chúng cũng giảm bớt.


Chúng tôi quay sang bảo vệ an ninh cho thôn xóm tại chỗ, tiếp tục làm công tác huấn luyện, và công tác dân vận, rồi cả tăng gia trồng rau xanh. Chúng tôi vệ sinh xóm làng, giúp dân sửa sang đường đi, giao lưu với thanh niên, dạy thiếu nhi hát múa …

*
Một buổi chiều đi tập về, tôi thấy trong gian chính của nhà chủ có một người thanh niên lạ đang ngồi uống nước. Ông Miên giới thiệu đó chính là người con trai lớn của ông, vốn là lính ngụy, vừa qua đợt học tập, cải tạo trở về. Anh ta đứng dậy, hơi cúi người chào chúng tôi, dáng vẻ lễ phép. Anh mặc một chiếc áo sơ-mi đã ngả màu cháo lòng bó chẽn người, một chiếc quần ống loe màu nâu. Tôi nhìn anh ta, thấy cao hơn tôi một chút, và cũng trạc tuổi mình. Tôi chào lại, rồi xin phép ông chủ, vì tôi còn cùng anh em tiếp tục làm một số việc khác nữa.


Cử vài người ở lại dọn dẹp, quét nhà …, tôi cùng một số chiến sĩ khác ra tưới rau ngoài vườn ở cạnh suối. Không hiểu sao, vừa làm tôi vừa nhớ tới gương mặt người con lớn của ông chủ nhà, và có cảm giác quen quen như mình đã gặp ở đâu đó rồi. Nhưng anh ta vốn là lính ngụy, lại vừa đi học tập cải tạo về, thì liệu mình có thể gặp ở đâu được?


Thời gian này, sinh hoạt của bộ đội chúng tôi còn chặt chẽ lắm. Tối nào cũng phải họp hành, sinh hoạt. Có buổi thì quán triệt nhiệm vụ chung, lúc thì họp chi đoàn, khi lại vui văn hóa văn nghệ tại chỗ … Mục đích của sinh hoạt liên miên, chính là một hình thức giáo dục và quản lý chính trị tư tưởng. Lúc nào cũng bận sinh hoạt tập thể, không có thời gian để mà nghĩ ngợi riêng tư, "nhàn cư vi bất thiện". Riêng tối thứ bảy thì chúng tôi được nghỉ tự do trong phạm vi đóng quân để tán gẫu với nhau, hay viết thư về quê nhà.


Cứ luẩn quẩn suốt một tuần suy nghĩ, mà tôi vẫn không nhớ ra là gặp người con lớn ông chủ nhà khi nào. Đến tối thứ bảy ấy, tôi không sang lán đại đội chơi, mà ở nhà để nói chuyện với gia đình bác Miên. Anh con trai bác Miên tên là Lê Huỳnh, 23 tuổi, hơn tôi một tuổi. Chúng tôi xưng hô với nhau theo kiểu anh, tôi. Lạ cái là Huỳnh cũng nói rằng nhìn gương mặt tôi thấy quen. Tôi hỏi Huỳnh, thế ở trong lính ngụy thì anh thuộc sắc lính nào, thời gian cuối chiến tranh thì tham chiến ở đâu? Huỳnh cho biết, anh ta là chuẩn úy, thuộc Liên đoàn Biệt động quân biên phòng 2 ở Pleiku. Khi Tây nguyên thất thủ, đơn vị anh ta rút chạy và tan rã ở Cheo-reo, Phú Bổn. Huỳnh đã ra hàng quân giải phóng trên đường 7, bên ngoài Thị xã Cheo-reo. Đến đây thì tôi dần dần nhớ ra…

*
Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân giải phóng nổ súng đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Thị xã này thất thủ một ngày sau đó. Liền mấy ngày sau, quân ngụy tìm cách phản kích nhưng không thành công. Lại thêm các căn cứ nhỏ dọc đường 14 từ Thị xã Pleiku về Buôn Ma Thuột liên tục bị tiêu diệt. Ngày 14 tháng 3, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã ra một mệnh lệnh hết sức sai lầm về chiến lược là rút bỏ Cao nguyên. Trên một vạn lính ngụy còn lại từ Kon-Tum và Pleiku, cùng gia đình và rất nhiều dân thường lo sợ mà chạy, đã kết thành một dòng người và xe khổng lồ tháo chạy trên đường. Họ đi xuôi đường 14 mấy chục cây số, rồi rẽ theo đường 7 vào Thị xã Cheo reo của Tỉnh Phú Bổn. Tại đây, họ hợp quân với các đơn vị của Cheo reo rồi rút chạy tiếp về Thị xã Tuy Hòa. 


Khoảng ngày 18 tháng 3, đoàn ngưòi rút chạy đã qua Thị xã Cheo reo. Đơn vị quân ngụy đi đầu đã vượt ra khỏi Thị xã tới năm sáu cây số, mà đám quân dân đi sau còn phải cách hơn chục cây số nữa mới tới được Thị xã.


Lúc đó, Sư đoàn chúng tôi còn đang ở đường 14, nằm ở phía Tây, và cách xa con đường 7 tới 15-20 cây số. Chúng tôi được lệnh cấp tốc chặn đánh các đơn vị quân Ngụy đang rút chạy, không cho chúng thoát xuống đồng bằng. Thế là chúng tôi bỏ hết ba-lô và vũ khí nặng lại, chỉ mang vũ khí nhẹ và vận động nhanh tới đường 7. Các đơn vị của Trung đoàn 64 thì vận động xuống phía Đông Thị xã Cheo reo để đánh chặn đầu. Họ phải chạy xa hơn và cần phải chạy nhanh hơn, vì chậm chừng nào là các đơn vị quân Ngụy đi thoát thêm chừng đó. Trung đoàn chúng tôi vận động khóa đuôi, nhiệm vụ nhẹ hơn, nhưng chạy liền hơn chục cây số đường rừng cũng bở hơi tai.


Khi chúng tôi ra đến đường 7, thì hầu như không phải nổ súng. Đoàn người chậm chân đi cuối đội hình rút chạy này đa phần là dân. Trong dòng người lũ lượt đó có lẫn rất nhiều lính ngụy, nhưng không còn theo hàng ngũ, đơn vị gì nữa. Họ, hoặc là bị thương, hoặc là vướng víu gia đình, phải dìu dắt nhau đi bộ không có xe cộ, hoặc là những người lính đơn lẻ thuộc các đơn vị đã bị tan rã từ trước. Họ nhanh chóng buông súng đầu hàng. Chúng tôi không có thời gian, không có nhiều người, nên yêu cầu họ dùng dây buộc súng lại thành từng bó rồi xếp xuống rãnh ở hai bên vệ đường. Rồi chúng tôi tuyên truyền ngay tại chỗ, để những người dân và những người lính ấy cùng gia đình quay trở lại nơi ở cũ. Lúc này chúng tôi cũng chẳng có người mà trông giữ tù hàng binh. Tới chiều hôm đó thì đã tạo ra được một dòng người đi ngược lại với hướng hành quân của chúng tôi. Tất thảy họ đều mệt mỏi, nhưng có nhiều người đã cười vui với chúng tôi. Họ an tâm trở về nhà vì số phận của họ đã bình an, không liên quan gì đến cuộc chiến này.


Chúng tôi vào Thị xã Cheo reo, ổn định tình hình dân ở đó một ngày, rồi tiếp tục hành quân xuống đánh Thị xã Tuy Hòa của tỉnh Phú Yên.

 

... (còn nữa) - LSV (g/th)

 

***

Xem các bài khác: Bấm chuột phải vào tên bài chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới"

Bài 1; Bài 2; Bài 3; Bài 4; Bài 5.


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích