Súng gầm giữa rừng La Hạp_15/41 (TM)

08/05/2016,11:07:51 | 150 | 0

Chiến trường Tây Nguyên

 

SÚNG GẦM GIỮA RỪNG LA HẠP (15)

Kính tặng Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 và các cán bộ chiến sĩ tham gia trận đánh Mỹ ngụy tại La Hạp tháng 6.1967.

Tiểu thuyết của THẠCH MINH

 

 

Chương XV

            Thôn Quảng Lạc thuộc thị xã Lạng Sơn là một thôn cổ kính và trù phú. Nhiều gia đình trong thôn mang họ Mã, một họ có nguồn gốc từ Trung Quốc. Mã Xuân Triệu lớn lên trong thôn và được ông nội kể lại rằng ông tổ từ Trung Quốc đã sang Việt Nam hơn một ngàn năm nay. Khi đặt chân đến vùng đât này cụ tổ đã trồng một cây đa làm kỷ niệm. Nhìn thấy vùng đất trù phú, xanh tươi cụ đặt tên cho nơi mình nương thân là Quảng Lạc. Với hy vọng nơi đây sẽ mang đến sự sung sướng, giàu sang cho con em họ Mã và cho mọi người đến muôn đời sau. Ngày Xuân Triệu lớn lên, cậu tìm đến nơi cụ tổ đã trồng cây đa. Bây giờ nơi đó là một ngôi chùa cổ kính, khang trang có tên là Trúc Lâm. Trúc Lâm tự được xây dựng bởi các chắt của cụ tổ, hiện đã có gần một nghìn  năm tuổi. Bên cạnh chùa Trúc Lâm cũng có trồng một cây đa và mấy cây bồ đề. Những cây đó chỉ mới khoảng năm sáu trăm tuổi đều cao lớn, xum xuê.

            Nói đến thôn Quảng Lạc, người ta nghĩ ngay đến Mã Đạt vì ông là người giàu nhất vùng và có lòng trắc ẩn. Những năm cả vùng Lạng Sơn bị hạn, mùa màng thất thu. Nhiều nhà đói quá phải bỏ làng xóm đi ăn xin. Riêng làng Quảng Lạc không có người nào phải đi khất thực vì ông Mã Đạt đã cho các nhà trong thôn mượn lương thực đủ ăn qua thời đói kém. Ông yêu cầu các hộ trả lại cho ông vào mùa sau hoặc đến giúp ông làm ruộng trừ nợ cũng được. Mã Đạt là ông nội của Mã Xuân Triệu. Thời còn nhỏ, Triệu đã coi bố mình, ông Mã Xuân Thịnh là một thần tượng. Bố anh có dáng người cao lớn, đẹp trai thổi khèn và hát lượn giỏi nhất vùng. Nhiều cô gái mê mệt tiếng khèn và tiếng hát của ông, ngay cả lúc ông đã có vợ và mấy anh em Triệu. Mặc dù có vẻ ngoài hấp dẫn nhưng bố chẳng bao giờ gây nên phiền  phức cho mẹ và anh em Triệu. Bố luôn chung thủy với mẹ và hết lòng thương yêu các con.

            Triệu là con trai đầu của gia đình Mã Xuân Thịnh. Anh có vẻ ngoài giống bố, cũng cao to khuôn mặt dễ nhìn, hàm râu quai nón đầy vẻ nam tính đã thu hút khá nhiều cô gái trẻ trong thôn và ở vùng bên. Từ hồi còn nhỏ Triệu đã thích hát lượn, thổi khèn cùng thiếu niên trong thôn. Lớn lên, anh muốn tự thể hiện mình bằng cách rủ bạn bè vượt hàng chục cây số đến Chi Lăng, Đông Kinh, Mai Pha... để thổi khèn và hát lượn. Các bạn nam thanh, nữ tú ở những địa phương đó rất mến mộ những chàng trai của Quảng Lạc. Họ tiếp đón niềm nở và cùng vui chơi với các chàng trai rất thân tình. Thường thường, các bạn trẻ vui chơi, múa hát với nhau suốt đêm sáng ra mới trở về nhà ngủ. Nhưng từ khi thực dân Pháp tái chiếm Lạng Sơn vào đầu năm 1947 thì việc tụ tập vui chơi ca hát bị cấm đoán . Tuy vậy Triệu và các bạn vẫn tranh thủ để vui chơi ca hát với nhau vào lúc chiều đến và đầu hôm. Khoảng tám giờ, tất cả giải tán.

            Nhưng Triệu và các bạn không ngờ, điểm vui chơi của họ đã bị bọn Pháp, bọn mật thám Việt gian theo dõi. Trong một đêm cuối năm trời lạnh giá, các bạn trong tốp của Triệu định chơi một lúc để về nhà sưởi ấm. Khi Triệu và các bạn thanh niên ở Đông Kinh đang bịn rịn chia tay nhau để trở về Quảng Lạc thì bọn Pháp và mật thám Việt gian ập đến. Chúng trói tất cả rồi đưa lên xe bịt bùng chở về đồn ở trung tâm thị xã. Đêm hôm đó, chúng dẫn từng người trong nhóm thanh niên lên tra khảo. Chúng nghi ngờ nhóm thanh niên Quảng Lạc là Việt Minh đến Đông Kinh để tuyên truyền, vận động thanh niên Đông Kinh tham gia Việt Minh chống Pháp. Tháng sau, Triệu và một số thanh niên Quảng Lạc bị tòa án kết án ba tháng tù về tội tụ tập để tuyên truyền chống lại nước Pháp! Đầu năm năm 1950, Triệu ra tù. Anh về Quảng Lạc được mấy ngày rồi xin phép bố đi theo bộ đội Việt Minh. Lúc đó anh mới bước sang tuổi mười bảy và chưa học xong tiểu học.

            Vào bộ đội, Triệu được đưa đến Sơn Động, Bắc Giang để học lớp huấn luyện tân binh. Sơn Động là một huyện miền núi xen nhiều vùng trung du rộng lớn. Đơn vị của Triệu đóng quân tại xã Phúc Thăng. Người dân ở đây rất thân thiện và mến khách. Bộ đội ở nhờ trong nhà dân được coi như con cháu trong nhà. Hễ hôm nào Triệu bị cảm cúm là được chị chủ nhà nấu nước xông, bệnh được chữa khỏi ngay. Hầu hết các gia đình trong xã đều nghèo nhưng khi có những món ăn ngon chủ nhà đều đưa ra đãi bộ đội. Sau ba tháng huấn luyện, đơn vị của Triệu được biên chế về các đơn vị chiến đấu.

            Triệu được phân công về đại đội Ba, tiểu đoàn Hai bốn chín, trung đoàn Một bảy tư thuộc Đại đoàn Ba mười sáu. Lúc mới đến đơn vị, đại đội trưởng Hoàng Ngọc Sang tập hợp đơn vị sinh hoạt, ông tuyên bố:

            - Chúng ta là bộ đội Việt Minh, bộ đội cụ Hồ phải sống có tình có nghĩa với nhân dân. Hiện nay, đơn vị chúng ta phải thường xuyên cơ động nên chúng ta chưa có doanh trại cố định mà đến đâu đóng tại nhà dân ở đó. Sống chung với dân, các đồng chí phải thực hiện bằng được châm ngôn "đi dân nhớ, ở dân thương". Không ai được tự ý lấy của dân một thứ gì dù chỉ là cây kim, sợi chỉ. Đồng chí nào vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luât nặng. Các đồng chí rõ cả chưa?

            Cả đại đội đồng thanh trả lời:

            - Rõ!

            Trong những ngày đó, đơn vị hành quân từ Bắc Giang lên Thái Nguyên, Cao Bằng rồi lại theo đường Bốn về Lạng Sơn, xuống Quảng Ninh. Nhiều tháng liền đơn vị liên tục di chuyển. Dù hành quân mệt nhọc nhưng mỗi khi đơn vị nghỉ lại, Triệu lại cùng đồng đội múa hát vui vẻ. Nhân dân ở nơi đóng quân đến xem rất đông và cổ vũ nhiệt tình. Thấy vậy, Triệu càng hăng hái trổ tài thổi khèn, múa lượn và hát nhiều bài dân ca Tày Nùng. Trong mấy ngày đơn vị dừng lại ở xã Tú Xuyên, huyện Văn Quan, Triệu làm quen với một người con gái tên là Lâm, Hà Thị Lâm. Một cô gái đẹp người, tính tình dịu dàng. Gia đình Lâm thuộc vào hạng khá giả ở Tú Xuyên. Giữa tháng tám, đơn vị được lệnh hành quân đến Đông Khê. Chia tay Lâm, Triệu cảm thấy bịn rịn và hẹn ngày trở lại thăm Lâm. Cô gái người dân tộc Tày ấy đã tỏ ra mềm yếu khi chia tay. Cô cứ ôm lấy Triệu khóc nức nở. Triệu phải nói ngọt, dỗ dành mãi Lâm mới chịu nín.

            Sau ngày chia tay với Lâm, đơn vị anh đánh đồn Yên Ngựa, mở màn trận đánh Đông Khê. Trận đánh đồn Yên Ngựa rất ác liệt. Bọn lính lê dương cố thủ trong lô cốt bê tông bắn trả bộ đội ta quyết liệt. Đại đội Ba do Hoàng Ngọc Sang chỉ huy chiếm được ưu thế là tấn công bất ngờ khiến bọn Pháp hoang mang, lo sợ. Nhưng sau đó, bọn chúng lấy lại tinh thần và chống trả quyết liệt. Chính vào thời điểm khó khăn đó, đại đội trưởng Ngọc Sang đã quyết định cho bọn lính Pháp "nếm thử" đạn ba-zô-ca và DKZ. Ông điều đến hai khẩu ba-zô-ca, hai khẩu DKZ. Bốn khẩu súng gầm lên, các lô cốt kiên cố lần lượt bị phá tan. Bọn lính cố thủ trong các lô cốt phần lớn bị tiêu diệt. Số sống sót chạy tán loạn vào sân đồn và bị bộ đội ta bắt sống. Trận đánh đó, Triệu được cử làm trợ thủ cho một xạ thủ RPD ém ở bên trái đồn. Trước sức tấn công mãnh liệt của ta, một số lính tháo chạy ra khỏi đồn, xạ thủ RPD nổ súng chặn chúng lại, buộc chúng trở về đồn và bị bộ đội ta bắt sống. Hơn chục tên đã bỏ mạng trước họng súng RPD của hai chiến sĩ. Sau trận thắng ở đồn Yên Ngựa, xạ thủ và Triệu được cấp trên khen thưởng.

            Đánh xong đồn Đông Khê, trung đoàn Một bảy tư lại theo đường Bốn tiến dần lên Cao Bằng, tiêu diệt những cứ điểm còn lại dọc biên giới Việt- Trung. Cuộc đời chinh chiến đưa Triệu đến những vùng đất mới lạ và gặp gỡ những gương mặt mới nhưng trái tim anh luôn hướng về người con gái Tày ở Tú Xuyên.

            Đến giữa năm 1953, anh được đơn vị cho về phép.  Mới đặt chân về nhà hôm trước, hôm sau anh đã đến Tú Xuyên tìm gặp người yêu. Gặp lại nhau, hai người mừng vui khôn xiết. Triệu và Lâm quấn quýt với nhau tưởng không thể bao giờ rời xa nhau nữa. Hôm sau, gia đình Triệu đến làm lễ dạm hỏi Lâm cho Triệu. Mấy ngày kế tiếp là đám cưới đôi bạn trẻ Triệu- Lâm. Một đám cưới vui vẻ và linh đình nhất xứ Lạng vào những ngày không còn bóng quân Pháp. Gia đình nhà Triệu đã mổ hai con bò và bốn con lợn mời tất cả họ hàng, làng xóm, bạn bè của Triệu ăn uống, liên hoan văn nghệ trong ba ngày đêm liền. Văn nghệ chủ yếu do những người bạn đã cùng Xuân Triệu đi hát ở Đông Kinh, Chi Lăng, Mai Pha...trước đây thực hiện. Những chàng trai sau khi ra tù đã dày công học thêm ở các thầy trong thị xã, có người còn khăn gói xuống tận Hà Nội theo học nghề đàn hát. Những người bạn đã múa hát tận tình và sôi động tại đám cưới. Ngày thứ ba, họ nhà trai tổ chức đoàn đi rước dâu. Gia đình Triệu thuê một chục chiếc xe ở Lạng Sơn đi xuống Văn Quan. Nhà Lâm cũng tổ chức đám khá linh đình. Nhà gái cũng mổ bò, mổ lợn để khao hàng xóm và bạn bè của Lâm. Gia đình Triệu làm lễ đón dâu  đúng vào giữa buổi sáng, gần trưa đoàn rước dâu về tới Quảng Lạc.

            Bà con Quảng Lạc đứng hai bên đường đón đợi đám rước dâu của nhà họ Mã. Khi đám rước dâu ngang qua, mọi người đi theo sau tạo thành đám rước đông vui chưa từng thấy. Nhà Triệu tổ chức đám cưới, đãi tất cả mọi người theo đoàn rước dâu và những người được mời dự ăn uống, vui chơi đến tận khuya. Cưới vợ được ba ngày, Triệu đã phải khoác ba lô trở về đơn vị.

            Tháng tám năm 1953 đơn vị anh tham gia đội hình của trung đoàn hành quân đánh giặc giúp nước bạn tại vùng thượng Lào. Tháng một năm 1954, trung đoàn Một bảy tư quay về Việt Nam đánh giặc ở vùng Lai Châu. Sau khi đánh tan bọn địch ở Lai Châu, đơn vị được lệnh hành quân xuống Điện Biên Phủ. Trước khi cùng đơn vị lên đường, anh nhận được tin vợ sinh được một đứa con trai. Lâm viết thư báo cho anh biết và hỏi anh định đặt tên con là gì? Anh viết vội một lá thư gửi về nhà cho vợ và đặt tên con là Trần, Mã Xuân Trần. 

            Trung đoàn Một bảy tư cùng các trung đoàn khác trong đại đoàn Ba mười sáu được lệnh tấn công vào tập đoàn địch ở Điện Biên Phủ từ phía Đông. Trung đoàn có nhiệm vụ đánh chiếm đồi A1, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An chủ động ra lệnh cho hỏa lực của trung đoàn bắn vào cứ điểm yểm hộ cho xung kích mở cửa. Một nửa giờ đã trôi qua. Lúc này, pháo binh Pháp đã hồi sức, bắn dữ dội vào cửa mở. Các lô cốt, ụ súng ở tiền duyên dồn đạn về phía các chiến sĩ bộc phá đang lùa những ống thuốc nổ phá hàng rào.

            Phải mất hơn nửa giờ, hai mũi tiến công của các tiểu đoàn Hai bốn chín mới vượt qua một trăm mét rào và bãi mìn lọt vào đồn. Pháp dựa vào địa thế tự nhiên của quả đồi, bố trí công trình phòng thủ thành ba tuyến. Bên ngoài tiền duyên là tuyến chống cự. Tuyến trung gian có đặt trận địa hỏa lực. Trên đỉnh đồi là tuyến cố thủ và sở chỉ huy. Trong cứ điểm có nhiều tuyến chiến hào và giao thông hào liên hoàn. Tất cả các lô cốt và hầm trú ẩn đều có nắp đậy, chịu được đạn súng cối và pháo. Xuân Triệu cùng đồng đội lao đến cửa mở nhưng phải lùi lại vì hỏa lực của bọn Pháp quá mạnh.

            Lúc này cuộc chiến đấu trên những cao điểm khác đã kết thúc, bọn Pháp dồn hỏa lực đại bác và súng cối vào A1 mong cứu vãn tình hình. Các đợt xung phong của tiểu đoàn Hai năm năm cũng không vượt qua hàng rào lửa đại bác. Quá nửa đêm, cuộc chiến đấu tại A1 diễn ra giằng co. Mỗi bên giữ được nửa đồi.

            Trung đoàn Một bảy tư đã sử dụng cả lực lượng dự bị, không còn khả năng giải quyết A1, cần điều một đơn vị khác tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt A1.Đại đoàn Ba lẻ tám đưa trung đoàn Một lẻ hai từ phía tây sang phía đông, tiếp tục tiến công tiêu diệt A1. A1 đã trở thành "thành luỹ cuối cùng"  của tập đoàn cứ điểm.

            Để chống lại hệ thống hầm ngầm cố thủ không thể xung phong đánh chiếm được trên đồi A1 có vị trí quyết định, bộ đội công binh quyết định đào đường hầm từ trận địa tại A1 tới dưới hầm ngầm, đưa bộc phá với số lượng lớn vào đặt rồi cho nổ. Một đội đặc biệt gồm hai mươi lăm cán bộ, chiến sĩ do Nguyễn Phú Xuyên Khung, cán bộ công binh của Bộ, trực tiếp chỉ huy, đã tiến hành công việc ngay trước mũi súng quân Pháp, trong tầm kiểm soát của lựu đạn. Đất đồi A1 cực kỳ rắn. Tiểu đội trưởng công binh Lưu Viết Thoảng lựa chọn một tổ khỏe nhất mở cửa hầm. Quân Pháp không ngừng bắn súng và ném lựu đạn, ba chiến sĩ bị thương. Bản thân Thoảng cũng bị ngất vì sức ép của lựu đạn. Ba đêm mới đào xong cửa hầm. Khi đào sâu vào lòng núi được mười mét, bắt đầu phải khắc phục thêm khó khăn: thiếu không khí, đèn, đuốc mang vào hầm đều bị tắt, số đất moi từ lòng núi ra ngày càng nhiều không được để cho quân Pháp phát hiện. Các chiến sĩ phòng ngự tại A1 đã có kế hoạch chiến đấu không cho quân Pháp tiến xuống cửa hầm, dù phải hy sinh tới người cuối cùng, để bảo vệ bí mật tuyệt đối ý đồ đào hầm.

            Trong ngày năm tháng năm, trung đoàn một bảy tư hoàn thành đường hầm ở A1. Trong đêm, một tấn bộc phá chia thành những gói hai mươi ký, được đưa vào đặt dưới hầm ngầm Pháp. Tiếng nổ của khối bộc phá trên đồi A1 được chọn làm hiệu lệnh xung phong cho đợt tiến công tối ngày sáu tháng năm...

            Trước giờ G năm phút, các chiến sĩ ở chiến hào xuất phát xung phong được lệnh quay lưng về A1, nhắm mắt, há mồm đề phòng sóng xung kích và ánh chớp của ngàn cân bộc phá. Đúng tám giờ rưỡi tối, một tiếng nổ trầm, trên đồi A1 có một đám khói lớn phụt lên. Khối bộc phá nổ cách hầm ngầm vài chục mét thổi bay chiếc lô cốt bên trên, diệt phần lớn đại đội dù Hai của Étmơ đóng ở đây. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An lập tức ra lệnh cho pháo của trung đoàn nổ súng. Khối bộc phá một tấn đã tiêu diệt một phần tuyến ngang gây khó khăn cho các đơn vị đánh A1 trong đợt trước, tạo nên một cửa mở quan trọng giúp cho hai đại đội của tiểu đoàn Hai bốn chín xung phong thuận lợi. Trên đỉnh đồi, lính dù dựa vào chiến hào và công sự đã được củng cố trong thời gian qua ra sức chống đỡ chờ quân viện. Quá nửa đêm, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An quyết định đưa đại đội dự bị của tiểu đoàn Hai bốn chín vào giải quyết trận đánh. Bộ đội chia thành từng tổ nhỏ tiêu diệt dần dần từng ụ đề kháng của quân Pháp.

             Sáng ngày bảy tháng năm, lá cờ Quyết chiến Quyết thắng tung bay trên cao điểm A1 báo hiệu giờ tàn của tập đoàn cứ điểm. Mã Xuân Triệu cùng các đồng đội đứng bên ngọn cờ Quyết chiến Quyết thắng lòng ngập tràn niềm vui và niềm tự hào. Năm đó, Triệu tròn hai mươi tuổi.Sau chiến thắng Điện Biên, đơn vị của Triệu hành quân đến Phú Thọ và tiến dần về thủ đô Hà Nội. Triệu được chọn là một trong những chiến sĩ tham gia duyệt binh chào mừng chiến thắng Thủ đô. Hòa bình lập lại, anh được về phép thăm gia đình, vợ con gần một tháng. Con trai của anh mới tám tháng tuổi nhưng đã đi lẫm chẫm. Sau lần về phép ấy, vợ anh sinh thêm cháu gái được anh đặt tên là Trang, Mã Thị Huyền Trang. Trở về đơn vị, anh được chọn đi học bổ túc văn hóa. Bốn năm học bổ túc văn hóa, anh tốt nghiệp cấp hai và tiếp tục được cử đi học sĩ quan công binh. Năm 1961, anh tốt nghiệp, được phân công về công tác tại Cục Công trình quốc phòng, Binh chủng công binh. Tại đây anh được công tác chung với với đại đội trưởng đại đội Ba, tiểu đoàn Hai bốn chín oai hùng năm xưa, thiếu tá Hoàng Ngọc Sang. Anh được phong quân hàm trung úy, chuyên viên kỹ thuật của Phòng kỹ thuật thuộc Cục.   

 

... (Còn tiếp) - LSV (g/th)

****************************

 

Xem các bài khác bấm chuột phải vào tên bài, chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới": 

 

Bài 1Bài 2Bài 3Bài 4Bài 5Bài 6Bài 7Bài 8Bài 9Bài 10Bài 11Bài 12Bài 13Bài 14;

Bài 15Bài 16;  Bài 17Bài 18Bài 19Bài 20Bài 21Bài 22Bài 23Bài 24Bài 25Bài 26;

Bài 27Bài 28Bài 29Bài 30Bài 31Bài 32Bài 33Bài 34Bài 35Bài 36Bài 37Bài 38;

Bài 39Bài 40Bài 41


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích


Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'24969','mu6n87uhtpimi5t12vr0usba63','0','Guest','0','54.161.49.216','2018-08-16 17:14:34','/a300647/sung-gam-giua-rung-la-hap_15-41-tm.html')