Súng gầm giữa rừng La Hạp_1/41 (TM)

15/05/2016,15:22:15 | 445 | 0

Chiến trường Tây Nguyên

 

SÚNG GẦM GIỮA RỪNG LA HẠP (1)

Kính tặng Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 và các cán bộ chiến sĩ tham gia trận đánh Mỹ ngụy tại La Hạp tháng 6.1967.

Tiểu thuyết của THẠCH MINH

 

 

Thông báo của tác giả:

Bắt đầu từ ngày 10/1/2015, Thạch Minh sẽ đăng tải tiểu thuyết "Súng gầm giữa rừng La Hạp" lên blogs cá nhân. Đây là cuốn tiểu thuyết về cuộc chiến đấu chống quân đội Mỹ rất anh dũng, gian khổ của bộ đội Trường Sơn tại khu vực bản La Hạp (thuộc huyện Sê Pôn, tỉnh Savanakhet, CHDCND Lào). Do sách in rất hạn chế nên Thạch Minh phải nhờ blogs chuyển tải nội dung đến các độc giả gần xa. Mong các độc giả đón đọc.

Thân mến, Thạch Minh.

(Súng gầm giữa rừng La Hạp - Tiểu thuyết - Tác phẩm được sự đầu tư hỗ trợ của UBTQ các Hội LHNT Việt Nam và Hội VHNT tỉnh Tây Ninh. NXB HỘI NHÀ VĂN - 2014)

***

Chương I

            Lê Đình Soái về đến nhà vào lúc đã gần trưa. Hôm ấy là ngày cuối thu, trời đầy mây. Gió đông bắc thổi về mang theo hơi lạnh. Thượng sĩ lái xe Trần Thế Chiến ôm gói quà ông mua từ Hà Nội về cho các con đặt lên chiếc bàn nhỏ trong căn nhà tập thể của nông trường. Đình Soái mang ba lô, đeo túi bước theo sau lái xe. Ông đứng giữa căn phòng nhìn xung quanh. Giờ này vợ ông đang làm việc ở văn phòng nông trường, các con ông có lẽ đang đi học. Ông quay sang thượng sĩ Chiến:

            - Cậu đưa xe về đơn vị,  hai ngày nữa, lúc bốn giờ chiều quay lại đón tôi nhé.

            Thế Chiến dập gót giày và đưa tay lên vành mũ mềm:

            - Báo cáo thủ trưởng, rõ!

            Thượng sĩ Chiến bước ra xe, ít phút sau chiếc gaz 69 lao nhanh trên con đường đất đỏ của nông trường cam Bố Hạ trở về Hà Nội.

            Ông ngồi vào chiếc bàn gỗ nhỏ kê ở gian ngoài của căn nhà tập thể. Chiếc bàn nằm sát cửa sổ nhìn ra con đường sỏi đỏ dẫn lên văn phòng của nông trường. Bên kia đường là một dãy nhà tập thể, tường gạch, lợp ngói, nền tráng xi măng. Phía sau khu nhà tập thể ấy là những vườn cam đang trĩu quả. Căn phòng khách nhỏ được vợ và các con ông bài trí lại khá gọn gàng, đẹp mắt. Nhiều bức ảnh chụp ở Quãng Ngãi, trước khi hai vợ chồng tập kết ra miền Bắc được vợ ông lồng trong khung ảnh, treo lên các nơi trang trọng trong phòng. Đây là tấm hình ông bà chụp lúc mới cưới vào năm 1949, khi đó ông đang công tác ở bộ đội Lê Trung Đình. Ông đã xin về quê ở vùng giải phóng cưới vợ và tình cờ có anh phóng viên báo Quân khu Năm đến công tác trong vùng chụp lại bức ảnh đó. Bức ảnh kế bên chụp cả hai vợ chồng đang bế cháu Hồng Quân, con trai đầu lòng. Bức ảnh chụp năm 1952, khi cháu mới hơn một tuổi. Những khung hai bên treo các tấm hình chụp khi cả nhà đã về sinh sống tại Bố Hạ. Bức ảnh chụp mới nhất là vào mùa hè năm nay có mặt cả gia đình gồm ông bà và bốn đứa con. Hai đứa em của Hồng Quân ra đời tại Bố Hạ là Thu Nguyệt, Hồng Quốc.

            Ngắm những bức ảnh của gia đình ông chợt nhớ về những ngày vợ chồng ông còn ở quê nhà. Năm 1946, khi đang học lớp đệ nhất tại trường Petrus Ký Sài Gòn ông đã bỏ trường về quê vì tình trạng lộn xộn trong trường khi quân Pháp theo chân quân Anh tái chiếm Nam bộ. Lúc đầu ông chỉ định về quê tạm lánh nạn chờ khi trường ổn định sẽ quay vào học năm cuối để lấy bằng tú tài rồi sẽ tìm nơi học đại học. Khi về đến quê ở xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi ông bị cuốn vào phong trào kháng chiến đang sôi sục trong xã. Thanh niên trai tráng ngày đêm tập quân sự, chuẩn bị kháng chiến để bảo vệ xóm làng. Nhà ông ở ngay giữa xóm Hiệp An, cạnh ngã tư đường làng. Mấy ngày đầu ông định lánh mặt ở nhà đọc sách nhưng rồi không khí sôi động của thanh niên trong xóm đã cuốn hút ông và ông đã tham gia tập luyện, xây dựng làng kháng chiến cùng mọi người. Năm 1947, lực lượng du kích của xã ông sôi sục khi nghe tin giặc Pháp đổ quân lên cửa biển Mỹ Á. Tất cả du kích của xã Phổ Phong được lệnh hành quân ra Phổ An để tăng cường lực lượng đánh quân Pháp. Cuộc chiến đấu chống lính thuỷ đánh bộ Pháp kéo dài gần một tuần lễ. Giặc Pháp cậy vũ khí tối tân và lực lượng tinh nhuệ tràn lên đóng quân gần cửa biển Mỹ Á rồi chia ra nhiều hướng đánh chiếm các xã Phổ Quang và Phổ Vinh. Bọn lính Pháp đi đến đâu đều đốt phá và giết người man rợ đến đó. Lực lượng du kích Phổ Phong và các xã lân cận đã kịp đến đánh chặn khi bọn chúng vừa tràn vào xóm Bàn An của xã Phổ Quang. Bọn lính Pháp sục vào trong xóm Bàn An và lùa dân xóm ra bãi đất trước làng. Phía sau có mấy chiếc xe "nồi đồng" chạy bằng bánh hơi đang đậu, các khẩu súng trên xe hướng về phía làng để yểm trợ cho bọn lính. Các chiến sỹ du kích muốn tấn công ngay bọn lính đang lùa dân nhưng Đình Soái ngăn lại, ông đề xuất chỉ huy cho diệt xe "nồi đồng" trước rồi tiến đến tiêu diệt bọn lính thuỷ đánh bộ cũng chưa muộn. Khi chỉ huy hỏi ông về cách diệt các xe bọc thép, ông mỉm cười:

            - Anh có thấy bánh xe làm bằng cao su không?

            Người chỉ huy hiểu ý, ông yêu cầu các chiến sỹ du kích tìm về mấy chai xăng, họ nhét giẻ vào chai và cho nhô lên một chút làm mồi thắp lửa. Đình Soái phân công mỗi người cầm một chai xăng bí mật tiếp cận mấy chiếc xe bọc thép. Khi tất cả đến gần xe bọc thép, ông ném chai xăng đầu tiên làm hiệu lệnh. Các chiến sĩ du kích còn lại sẵn sàng nhả đạn để hỗ trợ cho các chiến sĩ diệt xe bọc thép. Chai xăng ông ném đúng ngay mép vành sắt của bánh xe. Một ngọn lửa trùm lên bánh, kèm theo tiếng nổ nhỏ. Bọn lính trong các xe bọc thép còn lại đều quay súng về phía đám cháy, chúng bắn như vãi đạn chung quanh xe và vào các bụi cây chúng nghi là có Việt Minh ẩn nấp. Ngọn lửa của chiếc xe đầu tiên cháy bùng lên dữ dội, bọn lính trong xe vội vã nổ máy cho xe chạy hòng dập tắt đám cháy. Đình Soái chuyển sang phía bên phải xe, ông ném tiếp chai xăng thứ hai vào dãy lốp còn lại. Xe càng chạy, ngọn lửa càng lớn. Chỉ một lúc sau, các bánh xe chỉ còn lại mâm sắt. Ngọn lửa thiêu nóng trong xe nên bọn lính vội vàng tung nắp đậy tháp pháo để trèo ra. Lúc ấy các chiến sĩ du kích chỉ việc ngắm bắn từng tên một. Các chiếc xe còn lại lần lượt bị tấn công và bọn lính trong xe đều chịu chung số phận của chiếc xe đi đầu. Lúc các chiếc xe bọc sắt đã bị tiêu diệt, bọn lính  thuỷ đánh bộ mới vội vàng kéo đến ứng cứu. Hơn một trăm tay súng của du kích xã Phổ Phong dàn trận chiến đấu. Khoảng ba trăm lính Pháp đội ngũ chỉnh tề lăm lăm súng tiến đến. Khi gặp du kích, chúng tản ra và hình thành từng cụm ba người di chuyển theo kiểu con xúc xắc để tập kích vào giữa đội hình du kích. Do du kích xã ít tập chiến thuật, nhất là chiến thuật chống lại lính Pháp chính quy nên đội hình phía bên phải bị vỡ. Cả đơn vị du kích co cụm gần những chiếc xe bọc thép bị cháy. Ngay lúc đó, Đình Soái trèo nhanh vào chiếc xe bọc thép do ông ném xăng đốt cháy và đậy nắp cửa lại. Ông ngồi vào vị trí xạ thủ súng máy đạn đã lên nòng, dưới chân là những băng đạn đã lắp sẵn. Tuy chưa bắn súng máy lần nào nhưng ông nhận ra các bộ phận của súng. Tỳ vai vào giá,  mắt nhìn qua vòng ngắm, ông thấy bóng giặc nhấp nhô phía trước. Ông xiết cò. Từng loạt đạn nổ đanh, ông nhìn rõ những tên lính cao to ngã vật xuống. Ông ngừng bắn tìm xem cách xoay ụ súng để tiêu diệt đám lính khác. Cuối cùng ông tìm ra được cần quay ụ súng và liên tục nhả đạn vào đám lính đang hăm he tấn công du kích Phổ Phong. Lát sau, ông nghe tiếng đan bắn như mưa vào vỏ xe bọc thép rồi nghe tiếng động lịch kịch trên cửa ra vào tháp pháo. Ông với tay chộp khẩu tôm-xông chĩa thẳng lên cửa. Ngay lúc đó ông nghe tiếng "hự" và tiếng vật gì nặng nề rơi từ xe bọc thép xuống đất. Có lẽ đồng đội của ông đã bắn chết tên địch trèo lên xe định mở nắp đột nhập vào bên trong. Sau khi ông bắn hết bốn băng đạn đại liên, bọn Pháp còn lại tháo chạy ra khỏi xóm Bàn An. Trong ngày hôm ấy, du kích xã Phổ Phong, Phổ Quang và các xã bạn đã dồn quân Pháp đến cửa biển Mỹ Á. Hôm sau du kích xã Phổ Vinh cùng các xã phía Nam đuổi cánh quân thứ hai chạy dài. Bọn Pháp phải từ bỏ ý định đánh chiếm huyện Đức Phổ bằng cách dùng lính thuỷ đánh bộ tấn công từ cửa biển Mỹ Á.

            Quân dân xã Phổ Quang tổ chức đêm văn nghệ mừng chiến thắng ngay tại xóm Bàn An. Lê Đình Soái được nêu gương như một người anh hùng đã mưu trí, dũng cảm đánh bọn Pháp. Còn ông tìm nơi kín đáo ngồi xem văn nghệ và tình cờ gặp được người con gái xinh đẹp, hiền dịu xứ biển tên là Thanh Xuân. Sau đêm văn nghệ đó, bộ đội Lê Trung Đình đến tại Bàn An tuyển quân và ông là một trong những người đầu tiên ghi danh. Lính tân binh được đưa đến huấn luyện tại doanh trại của bộ đội Lê Trung Đình.

            Sau khoá huấn luyện, bộ đội được nghỉ phép về thăm nhà chuẩn bị lên đường chiến đấu. Đức Phổ trong những năm đầu chống Pháp và sau này là đất tự do, bọn Pháp không đủ lực để đưa quân ra đánh chiếm. Đình Soái cuốc bộ từ Ba Tơ về Phổ Phong, ông thăm nhà vài hôm rồi lặn lội đến Bàn An để gặp Thanh Xuân. Ngày gặp lại, Thanh Xuân mừng vui khôn xiết và bà đồng ý nhận lời cầu hôn của chàng lính trẻ Đình Soái.

            Bộ đội Lê Trung Đình, tiền thân là Đội du kích Ba Tơ phát triển nhanh chóng, trở thành lực lượng vũ trang của tỉnh Quảng Ngãi ngay từ ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Năm sau, bộ đội Lê Trung Đình trở thành lực lượng của Quân khu và của miền Nam. Mùa khô năm 1947-1948, Lê Đình Soái cùng bộ đội Lê Trung Đình đánh địch ở các tỉnh miền Nam khi thì ở Phan Thiết, Biên Hoà, lúc Thủ Dầu Một, khi ở Đồng Tháp, Long An... Những ngày chiến đấu gian khổ và ác liệt đã tôi luyện bộ đội Lê Trung Đình trở nên dũng cảm và sức chiến đấu bền bỉ, ngoan cường. Đình Soái trở thành người chỉ huy có bản lĩnh, thông minh và mưu trí. Ông luôn có cách đánh táo bạo, chọn kẽ hở của kẻ thù mà tấn công, tiêu diệt. Cuối mùa mưa năm 1949, trung đội trưởng Lê Đình Soái được nghỉ phép để kết hôn với chiến sĩ du kích xã Phổ Quang Nguyễn Thị Thanh Xuân.

            Sau khi kết hôn, Thanh Xuân về sống tại Phổ Phong. Bà nhanh chóng hoà mình với mọi người trong gia đình, hàng xóm ở quê chồng. Bà tham gia xây dựng lực lượng du kích xã để bảo vệ xóm làng bình yên và tham gia công tác xã hội. Rồi hạnh phúc đến với hai vợ chồng trẻ. Cuối năm 1950, bà sinh con trai đầu lòng. Đại đội trưởng Đình Soái chỉ huy bộ đội đánh hạ xong đồn Dầu Tiếng vội xin đơn vị cho phép về thăm vợ con. Ông chỉ kịp về thăm vợ, ẵm con được vài giờ rồi lên đường trở vào đơn vị. Trước khi đi, ông dặn vợ:

            - Em nhờ người đến xã khai sinh cho con nghe. Tên con là Lê Hồng Quân.

            Nói xong, ông ôm hôn vợ thắm thiết và vội khoác ba lô đi nhanh ra khỏi xóm. Những năm sau đó, chiến tranh ở khu vực miền Đông ngày càng ác liệt. Tranh thủ những ngày không đi đánh giặc, ông tìm đọc sách quân sự nước ngoài, đặc biệt là của Pháp để nghiên cứu chiến thuật, cách bố trí phòng thủ của lính Pháp trong các cuộc chiến tranh thế giới và tại Việt Nam. Chiến thuật tấn công và phòng thủ của quân đội Liên Xô, quân đội Trung Quốc và những quốc gia mạnh về quân sự khác. Thông qua những trang tài liệu bằng chữ Việt và chữ Pháp, ông đã tự bồi dưỡng cho mình chiến thuật quân sự thời cận đại và hiện đại. Bản thân ông trực tiếp trinh sát các đồn bót của lính Pháp, hiểu thêm chiến thuật phòng ngự của chúng tại địa bàn. Chính từ sự tìm tòi học hỏi đó, ông luôn đề ra chiến thuật tấn công địch phù hợp và đều giành thắng lợi. Bộ đội của ông rất ít thương vong. Đầu năm 1953, ông được bổ nhiệm chức Tiểu đoàn trưởng bộ đội Lê Trung Đình.

            Mùa mưa năm đó, đơn vị của ông nhận được lệnh cấp trên đánh đồn Chơn Thành do một tiểu đoàn lính Lê dương án ngữ để thông lối cho cán bộ, quân đội ta đi sâu vào hoạt động ở Thủ Dầu Một và vùng ven Sài Gòn. Tiểu đoàn trưởng Đình Soái trực tiếp cùng trinh sát đột nhập vào đồn điều nghiên. Ông nhận thấy đồn Chơn Thành cũng như các đồn khác của Pháp đều tập trung vào phòng thủ và ngăn chặn từ xa mà không có hướng tấn công để tiêu diệt đối phương. Ông sẽ nhằm vào điểm yếu đó của bọn Pháp, đánh tan chúng mà ít bị thương vong. Ông họp chỉ huy các đại đội giao nhiệm vụ. Thời điểm tấn công là lúc một giờ sáng.

            Sau khi phổ biến xong kế hoạch chiến đấu, Đình Soái hỏi:

            - Các đồng chí có ý kiến gì bổ sung cho kê hoạch tôi vừa nêu không?

            Các cán bộ đồng thanh đáp:

            - Báo cáo thủ trưởng, rõ rồi ạ.

            Đúng giờ quy định, các mũi xung kích của các đại đội đồng loạt chiếu đèn pin cột lên cây sào chiếu thẳng vào lỗ châu mai của tám lô cốt bảo vệ vòng ngoài đồn. Ánh sáng đèn pin soi rõ cho đại liên bắn vào các lỗ châu mai. Tranh thủ lúc bọn lính trong lô cốt thụt đầu tránh đạn, các chiến sỹ đi đầu đốt các chai xăng ném vào phía trước lỗ châu mai. Bọn địch loá mắt vì lửa, chúng tập trung súng bắn xả ra nơi các chai xăng đang cháy. Các trung đội khác lợi dụng lúc bọn địch tập trung bắn lửa đã tập kích vào các lô cốt từ phía sau. Diệt xong các lô cốt phòng thủ vòng ngoài, cả tiểu đoàn tập trung đánh thẳng vào các dãy nhà chính. Đây là những căn nhà xây nửa chìm nửa nổi để cho sỹ quan và binh sĩ nghỉ. Ông chủ trương dồn địch về phía cổng ra vào để tiêu diệt nên đã cho một bộ phận nhỏ vòng ra sau dãy cuối cùng để "xua" lính Pháp ra hướng sân. Tại góc ngoài của sân, ông bố trí lực lượng chủ chốt với vũ khí mạnh sẵn sàng đón địch. Khi bị quân ta tấn công, bọn lính bận nguyên đồ lót, chụp súng chạy ra phía sân. Trận đó, tiểu đoàn của ông tiêu diệt phần lớn sinh lực địch, hơn năm mươi tên bị bắt sống. Đồn Chơn Thành bị quân ta chiếm giữ hai ngày. Lực lượng cứu viện từ Thủ Dầu Một kéo lên bị bộ đội của ông phục kích, tiêu hao nặng khi mới kéo đến Bến Cát.

            Đầu năm 1954, thực hiện chiến lược kéo dãn bọn Pháp trên các chiến trường để đại quân tập trung tinh lực tiêu diệt tập đoàn Điện Biên Phủ, tiểu đoàn của ông đã đánh mạnh vào các đồn bót quân Pháp, trụ sở đầu não của bọn nguỵ quyền vùng ven Sài Gòn. Chỉ trong vòng từ tháng một đến tháng ba, quân của ông đã tiêu diệt sáu đồn và đánh chiếm bốn trụ sở của bọn tề nguỵ ở Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An, Thủ Dầu Một...

            Chiều ngày tám tháng năm năm 1954, tiểu đoàn của ông kết hợp với bộ đội địa phương đánh tan quân Pháp ở Bến Cát, giải phóng hoàn toàn khu vực Bến Cát tới gần tỉnh lỵ Thủ Dầu Một. Đúng lúc đó các đơn vị nhận được tin quân ta chiến thắng Điện Biên Phủ. Cả đơn vị oà lên sung sướng, quân và dân cùng hò reo đến lạc cả giọng. Tiểu đoàn trưởng Đình Soái lập tức triệu tập các đại đội trưởng, phân công hai đại đội cắt cử các bộ phận canh gác, số còn lại sẵn sàng chiến đấu phòng khi bọn Pháp lợi dụng ta sơ hở để đột kích. Đêm hôm đó, bộ đội và nhân dân Bến Cát và các vùng lân cận thức suốt đêm  diễu hành thị uy quanh thị trấn.

            Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, bọn Pháp và tề nguỵ ít tổ chức các cuộc hành quân bắn phá. Tiểu đoàn của Lê Đình Soái rút về chiến khu D củng cố và sẵn sàng lên đường để diệt bọn ác ôn. Trong thời gian này ông được bổ nhiệm chức vụ Trung đoàn phó.

            Ngày một tháng tám năm 1954, toàn quân được lệnh ngưng chiến, bộ đội Lê Trung Đình hành quân về Ba Tơ. Các đơn vị lập danh sách những người sẽ tập kết ra Bắc theo Hiệp định Genève. Trong thời gian đó, trung đoàn phó Lê Đình Soái được phép về thăm nhà, bà Xuân đón ông với cái bụng đã to vượt ngực, bà có thai trong chuyến nghỉ phép tết Giáp Ngọ của ông. Bà cho biết, bà được Đảng uỷ xã lập danh sách tập kết ra bắc cùng với Hồng Quân.

            Những ngày ở lại quê, ông cảm thấy mình luôn bị dằn vặt bởi ý nghĩ phải bỏ xứ ra đi trong khi đơn vị ông đang mạnh mẽ, mỗi người lính đều tràn đầy nhiệt huyết chiến đấu để giải phóng quê hương. Theo ông, đánh nhau với bọn Pháp dễ ợt,  chỉ cần một trung đoàn của bộ đội Lê Trung Đình phối hợp với các đơn vị khác ông có thể đánh đuổi dần quân Pháp ra khỏi miền Nam và đánh cho bọn tề nguỵ tan nát. Vậy mà bây giờ, ông phải cam tâm để cho bọn Pháp và nguỵ chiếm đóng quê cha đất tổ của mình, hành hạ đồng bào, đồng chí đã từng đổ mồ hôi, xương máu để bảo vệ và xây dựng quê hương. Mãi đến khi có cuộc nói chuyện với Bí thư Tỉnh uỷ Trần Văn An thì tư tưởng của ông mới được giải thông. Ông tin chiến lược của Bác Hồ và Đảng là hoàn toàn đúng đắn. Sau hai năm tạm chia cắt, đất nước sẽ hoàn toàn độc lập bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do. Bác Hồ sẽ tiếp tục lãnh đạo Đảng và nhân dân ta xây dựng lại đất nước từ đống hoang tàn đổ nát do chiến tranh để lại. Tạm xa quê hương chỉ hai năm rồi trở về đâu có dài lâu gì. Miễn là mọi chiến sỹ cách mạng đều nghiêm túc tuân thủ các điều đã ký trong Hiệp định Genève thì cách mạng nước nhà sẽ thành công!

            Đầu tháng mười, hai ông bà được xe của đơn vị đón ra Quy Nhơn để lên tàu ra Hải Phòng. Từ Hải Phòng, hai vợ chồng được đón lên Hà Nội. Ông về nhận công tác tại Bộ Tổng tham mưu còn bà chỉ ở vài hôm trong khu tập thể rồi phải nhập viện vì trở dạ. Cháu Thảo Nguyên chào đời đầu tháng mười một. Trong thời gian bà nghỉ hộ sản, ông đã đi gõ cửa nhiều cơ quan. Cuối cùng Bộ Nông nghiệp đồng ý nhận bà về công tác với điều kiện bà phải đi đến một trong những nông trường mới thành lập. Hơn một năm sau bà rời khu tập thể của Bộ Quốc phòng đến nông trường Bố Hạ thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

            Ba mẹ con bà được ở trong căn nhà tập thể rộng hai mươi bốn mét vuông. Bà được Nông trường bố trí cho bà làm công tác công đoàn. Một việc khá mới mẻ đối với bà. Dần dà bà làm quen với công việc và bà trở thành người chăm lo tích cực cho đời sống của hơn hai trăm cán bộ, công nhân của nông trường. Bà trực tiếp điều hành bộ phận cấp dưỡng, lo quan hệ với công ty công nghệ phẩm và công ty lương thực của huyện để mỗi người đều được nhận tiêu chuẩn đúng định lượng và đúng thời hạn. Chẳng bao lâu bà trở thành một cán bộ công đoàn được mọi người tín nhiệm vì tính mẫn cán, trung thực của bà. Ở nông trường mười năm, hai ông bà sinh thêm hai đứa con xinh xắn, khoẻ mạnh. Khi thấy gia đình bà ngày càng đông, nông trường cấp thêm cho bà căn hộ kề bên. Các chú công nhân giúp bà mở thêm cánh cửa phụ để hai phòng thông nhau.

            - Con chào ba ạ!

            Ông đang trầm tư, giật mình nghe tiếng chào. Ông quay ra cửa, Hồng Quân bận đồ công nhân chạy đến bên ông cúi chào lễ phép. Mười sáu tuổi mà cậu đã có dáng của một người đàn ông. Bộ quần áo công nhân coi bộ đã hơi chật so với vóc dáng nở nang của Hồng Quân.

            - Chào con! Con đi chăm sóc vườn cam về à?

            - Dạ, hôm nay lớp con được nghỉ học nên con đi ra vườn cam bón phân cho vườn của cô Na vì con cô ấy bệnh nên phải nghỉ ở nhà. Mẹ đang ở trên văn phòng, để con chạy đi kêu mẹ về nghe ba?

            - Không cần đâu con. Giờ đã gần trưa rồi, mẹ con sẽ về khi hết giờ. Con kể cho ba nghe việc học hành của con và các em đi.

            Hồng Quân ngồi ngay ngắn trước mặt ông, báo cáo với ông kết quả học tập của bốn anh em Quân, Nguyên, Nguyệt, Quốc. Cả bốn anh em đều là học sinh giỏi toàn diện. Quân mạnh về các môn tự nhiên và không thua ai về các môn xã hội, năm học lớp bảy Quân được Bác Hồ khen thưởng và năm nay đang quyết tâm giữ thành tích đó. Hai em gái Nguyên, Nguyệt giỏi đều các môn. Quốc mới học lớp một nhưng có trí nhớ rất tốt. Cậu bé đọc thuộc lòng các bài thơ dài trong sách giáo khoa của các chị và biết làm toán nhẩm cộng trừ đến một trăm khá nhanh, chính xác. Hồng Quân vừa báo cáo xong kết quả học tập của mấy anh em thì bà Thanh Xuân cũng từ nông trường bộ về tới nhà. Ông đứng lên bước về phía bà ôm chặt, hai vợ chồng quấn quýt bên nhau như không muốn rời ra. Phía sau bà, ba chị em ôm cặp bước vào. Khi nhìn thấy ba đang ôm mẹ, chúng đứng lại ở bực cửa một lúc rồi ùa đến vây quanh. Ông ôm từng đứa con vào lòng, hôn lên trán chúng rồi lấy quà giao Quân phân phát cho các em. Bà Xuân bước sang phòng bên lấy nón:

            - Anh ở nhà với các con, em đến văn phòng sắp xếp giấy tờ và khoá cửa phòng...

            Ông mỉm cười, gật đầu. Khi cả nhà đã quây quần đông đủ, ông thông báo ông sắp ra chiến trường. Bà nhìn ông âu yếm:

            - Mấy năm nay anh xin trở vô miền Nam chiến đấu mà giờ cấp trên mới chấp nhận à?

            - Đúng là sau ngày Mỹ- Diệm phá bỏ Hiệp định Genève, anh đã làm đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu nhưng cấp trên không chấp nhận. Những ngày nhận được tin Diệm khủng bố, tàn sát người yêu nước ở quê mình anh đã không ăn, không ngủ được. Vậy mà đã hơn mười năm trôi qua, anh mới thực hiện được nguyện vọng của mình nhưng lần này anh chưa trở về quê chiến đấu mà đến Trường Sơn em à. Dù sao được ra mặt trận là anh vui lắm rồi. Em ở nhà ráng công tác và nuôi dạy các con khôn lớn nghe!

            Bốn giờ chiều hôm sau, cả năm mẹ con bà Xuân cùng những nhà hàng xóm tiễn ông ra xe. Ông âu yếm hôn vợ con và chào mọi người lên đường.

 

... (Còn tiếp) - LSV (g/th)


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích