Hồi ký Quảng Trị 1972 (2.1)

Mùa hè đỏ lửa

 

HỒI KÝ QUẢNG TRỊ 1972 

PHẦN II "CHIẾN TRẬN" - Kỳ (1-2)

Nguyễn Quang Vinh - D3, E48, F320B - "Tử thủ Cổ thành"

 

 

Thông báo: Về việc đăng tiếp phần II Hồi ký Quảng trị 1972 của 1 anh lính Hà nội: 28.11 năm ngoái tôi đã đăng phần I (gồm 21 Kỳ). Như đã hứa với các bạn, từ cuối tuần này tôi sẽ đăng tiếp phần II với chủ đề "Chiến trận". Vì điều kiện chiến đấu ác liệt ko thể viết được Nhật ký, nên tôi sẽ viết phần này dưới thể Truyện nhiều hơn là thể Ký. 

Những lỗ hổng trong Ký ức sẽ được bù đắp, thêm bớt bằng những mẩu chuyện của các Cựu binh Thành cổ, do đó nhân vật Vũ Chí Thành sẽ ko còn là 1 con người cụ thể nào nữa, mà sẽ là tổng hợp hình ảnh của các chiến sỹ Tử thủ Cổ thành. Tài năng thì có hạn, lại vừa viết vừa đăng, nên hôm nào phấn khởi sẽ viết được dài, hôm nào chán nản, khóc nhiều thì viết được ngắn (bắt chước Nguyễn Đình Thi, khi nhân vật chết ông quăng bút vào 1 góc nằm khóc), mong các bạn thông cảm.

Từ sau Thành cổ trở đi sẽ lại chuyển về thể Ký. Hy vọng sẽ được các bạn chiếu cố "Cảo thơm lần dở trước đèn...Mua vui cũng được 1 vài trống canh...", mặc dù ở đây bi kịch là chính... (NQV)

 

http://linhsinhvien.vnweblogs.com/js/tinymce/plugins/more/img/trans.gifKỳ II.1 

 

Trong bóng đêm chúng tôi đi ngang qua sân bay Ái tử. Đường băng rộng mênh mông. Dưới ánh sáng nhờ nhờ của những quả hỏa châu xa xa, cả bọn rất ngạc nhiên thấy hàng hàng lớp lớp những tấm tôn đứng thẳng. Có thể đó là những tấm tôn lót đường băng, dưới tác động của thời tiết nắng nóng nên bị cong vênh lên như vậy. Chân trời thỉnh thoảng lại bừng lên ánh pháo sáng, hoặc những nháng lửa của đạn bom và tiếng ì ầm từ phía Thành cổ vọng lại. Càng gần đến Thành cổ, dấu vết đạn bom càng ác liệt. Nhiều làng mạc bị B52 đánh tan tác, vệt bom lỗ chỗ đầy đồng. Chúng tôi bị B52 rải thảm lần đầu tiên khi tới 1 làng nhỏ có tên gọi Nhan biều, là nơi tập kết trước khi vượt sông Thạch hãn để vào Thành.  Chỉ nghe một tiếng rít «Ú...ù» thì hàng loạt tiếng nổ đã vang lên đinh tai nhức óc, cát bụi mù mịt, khói bốc đầy trời, mùi khét lẹt. May thay vệt bom đi cách chúng tôi chừng 300m, nên không gây thiệt hại gì đáng kể. Chưa kịp hoàn hồn sau trận bom rải thảm, chúng tôi đã được lệnh chuẩn bị để vượt sông. Tất cả đồ đạc phải bỏ lại nên Ba-lô trở nên lép kẹp. Trong đó chỉ có ít gạo muối, lương khô, 200 viên đạn, 4 quả lựu đạn và túi thuốc men. Mấy hôm nay bầu trời luôn xám xịt, những cơn mưa nặng hạt đổ xuống liên tiếp. Nhìn mặt sông Thạch hãn mênh mông, nước lũ chảy cuồn cuộn, lòng chúng tôi bỗng dấy lên một nỗi sợ hãi mơ hồ.

 

Bờ bên Nhan biều là bờ bồi, bờ phía Thành cổ là bờ lở. Thường thì khúc sông này bị bắn phá dữ dội, hết pháo bầy lại đến bom tọa độ, tưởng không lúc nào dứt. Lại có khẩu Đại liên của địch đặt trên chiếc cầu sắt bị sập cách đó vài trăm mét, thường xuyên bắn chéo sang mỗi khi chúng thấy nghi ngờ. Thường thì Bộ đội ta vượt sông bằng cách buộc túm đồ đạc vào túi Ny-lông làm phao bơi, gác súng lên trên, rồi cứ bám vào chiếc phao như vậy vượt sang bờ bên kia. Nhiều người đã hy sinh khi bị địch pháo kích bất ngờ, chết vì trúng mảnh, chết vì sức ép, chết vì phao thủng... không biết bao nhiêu mà kể. Sau này Chiến sỹ Lê Bá Dương đã có những câu thơ cực kỳ xúc động về cảnh này:

 

«Thuyền xuôi Thạch hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi đôi mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm...»

 

Dần dần quân ta nhận thấy một quy luật, là cứ tầm 2h sáng thì mọi hoạt động của địch bỗng nhiên ngừng hẳn. Thế là trong khoảng 2-3 h sáng chúng ta đẩy mạnh công tác vận chuyển qua sông, tiếp tế người, đạn dược, lương thực vào Thành, và chuyển thương binh ra. Mỗi ngày có chừng 1 Đại đội lính mới và hơn 1 tấn đạn dược được chuyển vào Thành, chủ yếu là đạn B40-B41. B40-B41 là súng chống tăng, nhưng trong Thành quân ta dùng để bắn cả Bộ binh. Với sức nóng 1650°C, bắn chạm nổ trước tuyến xung phong của địch, mỗi quả đạn tạo ra hiệu ứng mìn định hướng rất khủng khiếp, có thể thổi bay cả 1 tiểu đội Ngụy. Những xác chết cháy thành than, cong queo, gần như bị bốc hơi. Chỉ có như vậy mới ngăn chặn được những đợt xung phong vũ bão của lính Dù hoặc Thủy quân lục chiến. Và đó cũng là câu trả lời thích đáng cho loại súng phóng lựu M79 của chúng, tục danh là súng «Cạch oành» hay «cối cá nhân», loại vũ khí đã gây ra những thương vong khủng khiếp cho Bộ binh ta. Tuy nhiên thời gian này, cán cân trận chiến trong Thành đã nghiêng về phía địch. Mưa liên tục, nước sông Thạch hãn lên to, làm việc tiếp tế hầu như là không thể, hầm hào bị ngập lụt hết. Lại thêm ưu thế hỏa lực của địch quá dữ dội, pháo bầy, pháo biển, B52, bom tọa độ, bom bổ nhào... suốt ngày đánh phá. Thời gian trước đó, địch còn sử dụng loại bom đặc biệt «Daisy cutter» 7 tấn có sức công phá khủng khiếp. Một máy bay vận tải C-130 lặc lè tha quả bom này tới thả xuống, có chiếc dù trắng bung ra hãm quả bom tới độ cao 30m thì nổ. Cả một góc Thành phía đông nam bị san thành bằng địa, nhiều Bộ đội của ta bị chôn sống dưới hầm hào. Từ đây địch tăng cường lấn dũi vào Trung tâm, tiếp cận dùng súng phun lửa bắn vào các chốt của ta, số phận quân ta ở Thành cổ chỉ còn được tính từng giờ.

 

 

Thành cổ QT trước chiến dịch, nằm cách bờ sông Thạch hãn khoảng hơn 200m. Mũi tên chỉ vị trí Dinh Tỉnh trưởng.

 

 

Chiến sỹ bảo vệ Thành cổ.

 

 

Thủy quân lục chiến chuẩn bị tấn công.

 

Kỳ II.2

 

Tầm 10h đêm ngớt mưa, có lệnh vượt sông. Đồ đạc và trang bị gọn nhẹ được chúng tôi cho vào tấm tăng che mưa hoặc bao gạo Ny-lông, buộc túm lại thành phao ôm ra bờ nước. Một số cậu ko chịu xuống nước, viện cớ không biết bơi. Anh Khả, cán bộ Đại đội người Hà tây, lồng lộn chửi bới mấy cậu này, quy cho tội hèn nhát đảo ngũ, phản bội Tổ quốc, thậm chí anh rút súng ngắn ra dọa: «Thằng nào không xuống bơi tao bắn vỡ sọ». Mấy cậu A trưởng phải can vào, chứng nhận bọn ấy nó không biết bơi thật, anh mới hạ hỏa. Những người này được lệnh lui về hầm Nhan biều chờ đợi, đến khoảng 2-3 giờ sáng sẽ có thuyền Cao-su chở tiếp vào Thành (hóa ra các chú đó lại gặp may, vì 10h đêm 13.09.1972 là đợt vượt sông cuối cùng, sau đó có lệnh dừng mọi tiếp tế để chuẩn bị rút ra).

 

Tất cả chúng tôi đều chỉ mặc quần đùi lội xuống dòng nước lạnh buốt, gác súng lên phao và bắt đầu bơi. Dòng sông mênh mông đen ngòm, bầu trời cũng đen ngòm, vô tận. Còn cách bờ khoảng 30m thì bất chợt đất trời rực sáng, hàng chục quả Hỏa châu địch bắn lên, soi rõ từng lá cây ngọn cỏ. Rồi một trận mưa đạn chụp xuống đoàn người đang lóp ngóp bơi trên dòng sông. Hàng trăm quả đạn pháo bắn cấp tập, mặt nước sôi lên sùng sục. Lại thêm hàng tràng Đại liên và đạn DKZ M40 bắn thẳng từ phía chiếc cầu sắt. Đạn kêu chiu chíu, mảnh pháo bay vù vù. Nước sông lập tức bị nhuộm đỏ  bằng máu của hàng chục chiến sỹ bị chết và bị thương. Họ chết vì đạn xuyên, mảnh chém, vì sức ép, bị thủng phao, sặc nước… Ôi những chàng trai trẻ của khu Hai bà và Hoàn kiếm Hà nội, họ chết khi còn quá trẻ, nhiều người chưa một lần biết yêu. Tiếng gọi cuối cùng trên môi là tiếng gọi «Mẹ ơi» trước khi chìm vào bóng đêm vĩnh cửu. Nhưng chẳng người mẹ nào có thể cứu được con mình trong cơn bão lửa trên dòng Thạch hãn ấy. Có thể qua thần giao cách cảm, họ sẽ khẽ giật mình, có biết đâu trong giờ phút đó, máu của những đứa con của họ đã thắm đỏ một khúc sông rồi...

 

Hoảng loạn, chúng tôi giãy đạp và khoải nước bơi như điên. May quá, ngón chân đã chạm đất, những người sống sót lóp ngóp bò lên bờ, nằm dúi vào mấy gờ đất ven sông. Hàm răng đánh lập cập, lạnh thấu xương, tôi nằm thẳng cẳng nhắm mắt thở, mặc đạn bay pháo nổ. Rồi cơn bão lửa cũng qua đi, chúng tôi được lệnh chạy thật nhanh về phía Thành cổ.

 

Qua khoảng vài trăm mét thì bóng một ngôi nhà lớn lờ mờ hiện ra. Ai đó nói: «Tòa Tỉnh trưởng đấy». Hình như đó là 1 tòa nhà 2 tầng, nhưng phía trên đã bị hư hỏng nặng. Tuy nhiên tầng hầm kiên cố và khá rộng thì vẫn còn nguyên vẹn, và được dùng làm Chỉ huy sở của lực lượng bảo vệ Thành. Chúng tôi tản ra ẩn nấp dọc những giao thông hào đào quanh nhà. Một số theo anh Khả vào bên trong xuống tầng hầm nhận lệnh. Bên trái cầu thang là nơi Ban chỉ huy làm việc, mấy cán bộ Tham mưu đang xúm xít quanh tấm Bản đồ trên chiếc bàn nhỏ, được rọi bằng đèn Măng-sông và đèn pin. Chuông điện thoại đổ liên hồi. Vài chiến sỹ Thông tin vô tuyến nói liên tục vào ống Tổ hợp: «Tinh cầu đây Địa cầu đâu, nghe rõ trả lời» hoặc «Vạn tường gọi Plây-me, nghe rõ trả lời»…. Bên phải cầu thang là Phẫu quân y dã chiến, nơi thương binh nằm la liệt, nhiều người rên rỉ hoặc thở khò khè. Không khí đặc quánh mùi mồ hôi, mùi máu, cả mùi phân và nước tiểu nữa...

 

Được lệnh đi tiếp, tôi bám chặt anh Thiệu, người trực tiếp phụ trách Trung đội. Trong bóng đêm, thỉnh thoảng được chiếu sáng bằng ánh Hỏa châu, chúng tôi chạy men theo những bờ tường đổ, những đống gạch vụn, hoặc những đoạn hào nông choèn. Một mùi khăn khẳn xộc vào mũi, chỗ nào cũng ngửi thấy mùi này. Về sau tôi mới hiểu đó là mùi xác chết. Xác chết ở khắp nơi, xác ta có, xác địch có. Có xác được vùi sơ sài, nhiều xác nằm phơi mưa phơi nắng, trương phềng, thối kinh khủng. Có xác chỉ còn trơ xương, có xác đã khô đét. Nhiều xác bị chết đi chết lại nhiều lần, tức là bị bom pháo hết quăng lên lại quật xuống, không toàn vẹn.

 

... (còn nữa)

 

 

Lên chốt.

 

 

Thủy quân lục chiến vào thay Dù.

 

LSV (g/th)

 

***

Xem các bài khác bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

Bài 2.1Bài 2.2Bài 2.3Bài 2.4Bài 2.5Bài 2.6Bài 2.7Bài 2.8Bài 2.9Bài 2.10 .