Hồi ký Quảng Trị 1972 (1.11)

Mùa hè đỏ lửa

 

HỒI KÝ QUẢNG TRỊ CỦA MỘT ANH LÍNH HÀ NỘI (1.11)

Vũ Chí Thành - D3, E48, F320B - "Tử thủ Cổ thành"

 

 

Hồi ký Quảng trị 1972 - Kỳ 21 (Hết phần I)

Chiến trường B5.

 

Một ngày thượng tuần tháng 9.1972 chúng tôi rời Bãi Hà. Đoàn quân xuất phát từ sáng sớm, lúc còn chưa rõ mặt người. Xuyên qua nhiều cánh rừng rậm, rừng thưa, tầm trưa chúng tôi tới 1 con suối cạn khá rộng. Lòng suối đầy sỏi và những hòn đá cuội tròn nhỏ, có vài lạch nước chảy song song, nơi sâu nhất lội chỉ đến đầu gối. Ai đó nói: «Sông Bến Hải !». Tôi ngạc nhiên ngắm nhìn, không ngờ con sông lừng danh chia cắt đất nước 20 năm trời lại nhỏ bé thế này. Ở thượng nguồn nó không khác gì 1 dòng suối, lội 2 phút là qua. Nước trong vắt, mát lạnh, lính ta tranh thủ dìm Bi-đông lấy nước uống và vục nước rửa mặt. Sang bờ bên kia chúng tôi lẩn nhanh vào cánh rừng thưa mọc đầy cây mua cao ngang đầu người, xen lẫn những bụi lau lách. Những bước chân đầu tiên trên đất miền Nam làm tôi bồi hồi. Dường như trời đất cỏ cây vẫn vậy, mà không phải vậy. Đây là chiến trường, cái đích mà chúng tôi nhắm đến và bây giờ đã đến. Ở đây có thể chạm địch và đổ máu bất cứ lúc nào. Ở Bãi Hà người ta đã cảnh báo chúng tôi về hoạt động của bọn Thám báo, tránh đi chệch đường mòn vì dễ dẫm phải mìn hoặc bom bươm bướm. Tầm 4 giờ chiều chúng tôi rời cánh rừng thưa, đi xuống 1 trảng cỏ tranh rộng bát ngát. Mỗi người phải chặt 1 cành lá che trên đầu để ngụy trang, tránh cặp mắt cú vọ của chiếc máy bay trinh sát OV-10 đang ò ò ở phía xa. Có thể nói suốt thời gian ở chiến trường, tôi đã quen với hình dáng như chiếc bừa và tiếng ò ò lúc xa lúc gần của nó, đến nỗi những hôm thời tiết xấu, OV-10 không bay, cảm thấy như thiếu 1 cái gì. Có lúc nó rống lên, bổ nhào bắn 1 trái đạn khói vào đâu đó, chỉ điểm cho máy bay đến ném bom. Trong không gian nghe như có tiếng vọng ì ầm của chiến trường. Trời bắt đầu xẩm tối. Chợt ở phía xa lóe lên 1 ánh chớp, rồi 1 quả cầu mầu xanh lá cây bùng lên, bắn ra hàng vạn tia sáng mầu lá mạ. «Bom Lân tinh đấy», anh Bính nói. Lại 1 quả bom lân tinh nữa nổ, sáng rực cả góc trời. Tối mịt thì chúng tôi tới bãi khách, nằm trong 1 khe cạn, cây cối mọc um tùm. Chúng tôi sẽ đóng quân ở đây, chờ đơn vị mới tới tiếp nhận.

 

Hôm sau tôi đi 1 vòng quanh bãi khách xem xét địa thế. Thấy nhiều hầm chữ A bỏ không, trong vài cái hầm có 1 số vật dụng bỏ lại, đặc biệt cả 1 hòm lựu đạn. Tôi bèn lấy 2 quả đem về chờ có dịp sẽ dùng.     

 

Tối tối lại diễn ra cảnh tiêu khiển kỳ quái như ở Bãi hà, đó là lính ta nằm trên võng chửi nhau cho đỡ buồn. Lính B1 đồng thanh réo tên B trưởng B2 ra chửi, lính B2 cũng đồng thanh chửi lại B trưởng B1. Long «cồ» to mồm nhất, tự xưng là «Đài phát thanh A6», giọng sang sảng liến thoắng bịa đủ thứ chuyện chửi bới lung tung. Một số cậu bị chạm nọc chửi lại, làm Long «cồ» nóng tiết thét lên: «Đ.mẹ thằng nào chửi Đài !».

 

Vài cậu khác thì hát nhạc vàng ông ổng suốt ngày. Cậu Phát A5 nằm gần tôi chuyên môn hát bài: «Tôi với nàng, hai đứa nguyện yêu nhau/ Tha thiết từ đây cho đến ngày bạc đầu...» và bài: «Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ. Nhiều nét đổi thay tường mái rêu mờ ... Thầy đó trường đây bạn hữu đâu rồi?». Nghe riết rồi tôi cũng đâm thuộc.

 

Có hiện tượng là các cán bộ thi nhau lăn ra ốm. Hôm hành quân đi khỏi Bãi Hà tôi đã thấy Tiểu đoàn trưởng Khanh có vẻ mệt mỏi, đi đứng chậm chạp, thỉnh thoảng ho. Mấy cậu liên lạc rỉ tai nhau: «Thủ trưởng ốm». Ở đây thì toàn bộ ban chỉ huy Đại đội đều ốm, nhưng nhìn anh Y và anh Hồng cố làm điệu bộ rất mệt, tôi đâm nghi ngờ. Bây giờ thì thậm chí anh Bính B trưởng, to khỏe như voi, cũng đổ bệnh, cả ngày nằm trên võng, không quan tâm gì đến Trung đội, thỉnh thoảng ho khúng khoắng, làm tôi thật sự suy nghĩ. Hình như vào đến chiến trường là tất cả các cán bộ huấn luyện đều bị bệnh cũ hoặc vết thương cũ tái phát, họ chỉ chờ bàn giao xong lính cho đơn vị mới là quay trở ra Bắc «điều trị» ngay.

 

Một sự thật buồn khác là lính Hà nội ở đây không có «giá», không được các đơn vị mới săn đón lắm. Chỉ huy các đơn vị đang chiến đấu ở đây không mặn mà với việc nhận lính bổ sung từ Hà nội. Họ cho rằng lính Hà nội hay Hải phòng sướng quen, không chịu được gian khổ, thuộc loại mồm miệng đỡ chân tay, trói gà không nổi. Họ đặc biệt thích lấy lính từ vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, vì cho rằng lính vùng này chịu khổ quen, chiến đấu gan dạ, dù có phần bướng bỉnh. Nếu không thì lính từ các vùng nông thôn khác cũng được. Vì vậy các đoàn lính Thái bình, Hà tĩnh... vào chiến trường cùng đợt với chúng tôi đã được nhận hết, mà chúng tôi vẫn nằm dài chờ đợi. Và như vậy chúng tôi bị lâm vào hoàn cảnh «chân không đến đất cật không đến trời»: Một mặt chúng tôi đã tách khỏi đường dây Binh trạm, không nhận được tiếp tế từ các Binh trạm nữa; Mặt khác lại chưa được đơn vị mới tiếp nhận, nên cũng chưa có tiếp tế từ đơn vị mới. Hậu quả là chúng tôi đói, đói dài mỏ, đói quay quắt giữa rừng.

 

Đã gần tuần nay chưa có hột cơm nào vào bụng. Còn 1 nhúm gạo ít ỏi chúng tôi phải dè xẻn nấu cháo ăn dần. Tôi và Quang Vinh hay ra ven suối hái rau vòi voi về độn thêm vào cháo. Nhìn những dây leo giống lá khoai lang bò trên các bụi cây nhưng không dám hái, vì nghe nói rất độc. Nhiều cậu hết sạch gạo, phải ra đứng ven rừng, ngửa tay xin từng nhúm gạo của những cán binh đơn vị khác tình cờ đi qua. Tôi là 1 người rất sợ đói, nên thường cất 1 phong lương khô «Tổng dự bị chiến lược» dưới đáy ba-lô, chỉ khi nào tự vấn lòng thấy không chịu đựng nổi nữa mới đem ra dùng. Nhưng khi lấy ra định ăn, thì nhìn thấy Lê Thanh Bình ngồi ở gốc cây gần đó còn đói hơn tôi, mặt mày xanh xám sắp xỉu. Tôi gọi Bình lại bẻ chia cho 1 nửa. Hai đứa ngồi cạnh nhau vừa nhai lương khô vừa khóc.

 

Một buổi chiều tôi rủ Ngô Duy Minh ra suối La La tắm và ném cá. Tôi lấy 2 quả lựu đạn nhặt được hôm nọ, đưa cho Duy Minh 1 quả. Tắm xong, chúng tôi đi tìm chọn 1 đoạn suối sâu, nước lặng. Hai đứa thỏa thuận là sẽ cùng rút chốt và cùng ném cả 2 quả lựu đạn xuống vũng suối này. Nhưng Duy Minh làm nhanh quá, tôi chưa kịp vặn nắp chuôi thì cậu ta đã giật chốt đánh « bép » 1 cái rồi ném tòm xuống suối. Tôi hoảng quá cũng quăng luôn quả lựu đạn chưa kịp giật chốt xuống theo. Hai đứa nằm rạp trên bờ suối chờ lựu đạn nổ. Nhưng chỉ có 1 tiếng «ục» vang lên, sóng nổi cuồn cuộn. Duy Minh vẫn nằm chờ tiếng nổ thứ 2, thì tôi đã bò dậy nói: «chắc xịt rồi», rồi đi xuống suối xem có con cá nào nổi lên không. Chợt 1 chiếc F4 lao xoẹt qua trên đầu, kéo theo 1 màn tiếng động xé óc và 1 dải khói đuôi đen xám. Trong bóng chiều chạng vạng, thấy có vài viên đạn lửa bắn lên vuốt đuôi chiếc máy bay. Tôi và Duy Minh xem xét kỹ đoạn suối, nhưng không tìm được con cá nào.

 

Bần cùng sinh đạo tặc, chúng tôi tìm cách ăn trộm gạo của 1 đơn vị đóng gần đó. Trong 1 buổi lang thang sục sạo khắp nơi, mấy cậu A6 tình cờ thấy trong rừng le cách chỗ chúng tôi chừng 2-3 km có vài căn nhà lợp cỏ tranh, về sau mới biết đó là hậu cứ của Phẫu 88, 1 đơn vị Quân y Quảng trị. Chúng tôi lặng lẽ bò tới gần từng nhà xem có người không, nếu không thì chui vào lục lọi tìm gạo. Khắp nơi không 1 bóng người, các căn nhà đều trống rỗng. Đang tuyệt vọng thì từ căn nhà cuối cùng có tiếng reo nhỏ. Ở đó chúng tôi tìm thấy mấy bao gạo còn nguyên. Cả lũ thay nhau cõng gạo chạy như ma đuổi về chỗ chúng tôi đóng quân để chia nhau.

 

Hôm sau nghe nói có 1 kho gạo ở chếch về phía Nam, tôi, Duy Minh và Chính «con» bèn lên đường tìm kiếm. Đi mấy tiếng đồng hồ mà chỉ thấy trảng cỏ mênh mông, loại cỏ rất lạ, không phải cỏ tranh, cao ngang thắt lưng, có bông như bông lúa lép. Thấy 1 đoàn thương binh đi ngược ra, người băng đầu, người băng ngực băng tay, quần áo nhem nhuốc còn dính máu khô. Mặt mũi ai cũng thiểu não, xanh xám. Một anh thở khò khè, dừng lại xin tôi miếng nước. Giọng đầy bất mãn, anh nói anh bị thương thấu phổi mà vẫn phải lê lết tự đi thế này. Xẩm tối thì 3 đứa tôi tới 1 bờ suối, gần đó có 1 túp lều lụp xụp. Trong lều chúng tôi tìm được 2 bao gạo, mỗi bao khoảng 50kg, bên ngoài bọc bao tải có in chữ Tàu, bên trong bọc 2 lần Ny-lông nữa. Chúng tôi đổ mỗi đứa 1 Ba-lô gạo đầy, còn lại đổ ra đất để lấy bao Ny-lông đem đi. Lính ta rất thích những bao Ny-lông này vì chúng dày dặn, làm bao bơi để vượt sông rất tốt.

 

Trên đường về trời tối như mực, chúng tôi bị lạc, lại mưa như trút nước. Ba đứa đành chui vào bao gạo, phủ thêm áo mưa lên người, nắm giữa đồng cỏ định ngủ qua đêm. Nhưng mưa vẫn rơi nặng hạt, lại bị ngộp thở trong bao Ny-lông, chúng tôi đành bò dậy, đi tới gần sáng mới tìm được đơn vị.

 

Phải nói rằng trong thời gian này rất nhiều người đảo ngũ. Cứ mỗi buổi sáng dậy lại thấy trống 1 vài chỗ mắc võng. Họ âm thầm tích trữ gạo muối, bí mật rủ nhau từng nhóm nhỏ biến mất trong đêm. Tiểu đội tôi có 10 người, thì 5 người đảo ngũ là Thành «ma tịt», Phái «con», Đường «cóc », Tỵ, Đệ, chiếm tỷ lệ 50% !. Những tiểu đội, trung đội khác tình trạng cũng tương tự. Sau này có lần gặp lại họ ở Hà nội, tôi làm lơ không chào hỏi. Tới tận bây giờ tôi vẫn không thể tha thứ cho những người phản bội như họ. Nhiều lúc tự hỏi, mình làm vậy có quá đáng không, đến cựu kẻ thù còn bắt tay được mà. Nhưng đúng như lời của 1 bài hát Nga sau này: «Đối với bạn bè, chúng ta có thể tha thứ cho những lầm lỗi, nhưng sự phản bội thì không !».

 

Rồi cuối cùng chúng tôi cũng được đơn vị mới tới tiếp nhận. Đó là Trung đoàn 48 mật danh «Quang sơn», sau đổi thành «Thạch hãn», thuộc Sư đoàn 320B, đang chiến đấu trong Thành cổ Quảng trị.

 

Tới đón chúng tôi có 2 cán bộ Đại đội người Thanh hóa: anh Tráng (?) đại đội phó khoảng 25 tuổi và anh Nguyễn Viết Thiệu chính trị viên phó khoảng 21 tuổi. Anh Tráng tính tình vui vẻ, hoạt bát, rất thích làm thơ và đọc thơ cho chúng tôi nghe. Anh Thiệu thì trầm tính hơn, nhưng rất tình cảm. Anh đến ở với Tiểu đội tôi, và thường kể nhiều chuyện về Trung đoàn 48 «Quang sơn» của mình. Lính Trung đoàn này hầu hết người Thanh hóa, đã chiến đấu rất gan dạ từ đầu chiến dịch. Nhiều trận đánh giữa đồng cỏ tranh, họ không thèm nằm tránh đạn, mà đứng thẳng người vừa bắn xối xả vừa xông lên dũng mãnh, làm bọn lính Sư đoàn 3 Ngụy hoảng sợ chạy tán loạn. Đặc biệt anh rất ca ngợi Trung tá Trung đoàn trưởng Trần Minh Vân, 28 tuổi, người Quảng Đà, một Triệu Tử Long của mặt trận Quảng trị. Anh Vân không chỉ là người chỉ huy mưu trí dũng cảm, mà còn rất gần gũi hòa đồng với binh lính. Có lúc còn thấy anh cùng mọi người gùi đạn băng qua sân bay Ái tử tiến về phía Thị xã Quảng trị. Hồi mới giải phóng Thị xã lính ta xông xênh lắm, thịt hộp đủ loại, gạo sấy... ăn ngập mồm. Bia uống từng két, có cậu còn dội lên đầu để tắm. Rồi còn kẹo bánh, Cà-phê bột, thuốc lá Salem, Bastô, Côtap... xài thoải mái. Nhưng rồi tình hình dần xấu đi. Một mặt, bọn Mỹ bắt đầu can thiệp, tăng cường hỏa lực bắn phá bằng pháo biển, bằng không quân. Máy bay Mỹ oanh kích ngày đêm, hết bổ nhào lại đến tọa độ. B52 ném bom rải thảm dữ dội, bầu trời Quảng trị lúc nào cũng thấy dọc ngang những lằn khói trắng từ «Pháo đài bay». Chính quyền Sài gòn tung 2 đơn vị thiện chiến nhất của họ là Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thủy quân lục chiến ra Quảng trị. Mặt khác, sức tấn công của quân ta suy giảm dần, vì hậu cần không theo kịp để tiếp tế. Hậu phương bị bom rải thảm liên tục, kho tàng bị phá hủy hầu hết. Nhiều đơn vị không đủ đạn dược, lương thực; xe tăng, cơ giới hết xăng, hết đạn. Lại thêm tổn thất về người và vũ khí trong quá trình tiến công chưa được bổ sung. Hậu quả là cuối tháng 6.1972 các mũi tiến công của ta  bị chặn lại ở bờ sông Mỹ chánh, giáp ranh với Thừa thiên. Có chỗ 11 chiếc xe tăng của ta hết xăng, sa lầy ở bờ sông, bị địch tiêu diệt hết.

 

Chúng tôi được dẫn đi xuống phía đồng bằng. Lần đầu tiên tới 1 ngôi làng Quảng trị, tôi sững sờ vì vẻ đẹp của nó. Từ trên đồi nhìn xuống, ngôi làng như ngập trong thảm cây cối xanh tươi, những hàng cau xanh mướt, thấp thoáng những mái nhà lợp tôn trắng toát, đầy vẻ thanh bình. Tuy  nhiên trong làng không một bóng người. Đây thuộc địa phận xã Cam thanh, huyện Cam lộ. Những ngôi nhà ở đây thường có hình vuông, 4 mái bằng nhau, ở giữa thót lên thành chóp nhọn như chiếc bát yêu úp. Cột nhà bằng gỗ tốt, nhiều nhà quây cót gian giữa làm thành bồ đựng lúa. Lúa đổ đầy tràn cả ra ngoài, bắt đầu mọc mậm xanh. Quần áo vứt vung vãi khắp nơi, có nhà còn có cả tủ lạnh. Mâm ngũ quả rất đẹp, màu sắc sặc sỡ, nhưng hóa ra hoa quả toàn bằng nhựa. Thấy mấy cái xe đạp hiệu Lincon còn trơ vành nằm lăn lóc, chúng tôi ngứa nghề nhảy lên đạp bừa vài vòng. Là một học sinh mới rời mái trường chưa lâu, tôi đặc biệt chú ý đến những quyển sách vở nằm rải rác trong nhà. Giấy trắng tinh, in rất đẹp, chẳng bù cho những quyển vở giấy đen xì ngoài Bắc. Tôi không ngờ mức sống trong Nam lại cao đến như vậy. Nhặt một quyển sách của một Linh mục viết, tôi thấy có đoạn: «…công bằng mà nói, thì Chủ nghĩa xã hội có những ý tưởng rất tốt đẹp và nhân đạo…», nên nghĩ bụng: «Đấy, đến kẻ thù mà cũng phải công nhận như vậy đấy…». Tuy nhiên, những trang sau nó chửi thì thôi rồi. Có vài phong thư nằm ở trên bàn, tôi cầm lên xem. Cái đập vào mắt tôi là chiếc tem thư ở góc Phong bì. Nó vẽ 1 người đàn bà nông thôn đội nón đang chạy loạn, 1 bên quang gánh đựng nồi niêu quần áo, bên kia là một đứa trẻ ngồi trong cái thúng, bên dưới đề: «Tết Mậu thân cộng sản tàn sát đồng bào». Tôi sững sờ mất 1 lúc. Ngoài Bắc chúng tôi được nghe Tết Mậu thân là một chiến thắng cực kỳ to lớn của Quân và Dân ta, đã giải phóng biết bao nhiêu Thành phố, làng mạc, đi đến đâu cũng được nhân dân hân hoan chào đón, làm sao có chuyện này được? Chắc chúng nó tuyên truyền láo khoét thôi. Nhưng một điều mà dần dần tôi nhận thấy, là các làng mạc mà chúng tôi đi qua đều vắng tanh vắng ngắt. Dân đã bỏ chạy hết, phần lớn là chạy vào Huế theo Thiệu. Nói như cách nói bây giờ là họ đã bỏ phiếu bằng đôi chân.

 

Tối hôm đó có lệnh tiếp tục hành quân. Chúng tôi lặng lẽ đi theo đội hình hàng một, nhiều đoạn đi trên đường nhựa, sau mới biết là đường 9. Con đường rải nhựa dầy dặn, bóng loáng, lỗ chỗ hố đạn pháo. Dưới ánh hỏa châu le lói, đoàn quân như một con rắn dài, trườn qua ngã ba Sòng, hướng về phía Thành cổ.

 

(Hết phần I « Đường vào Quảng trị », phần II « Chiến trận » sẽ được viết và đăng tiếp sau).

 

Vũ Chí Thành - LSV (g/th)

***

Xem các bài khác bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

Bài 1.1Bài 1.2Bài 1.3Bài 1.4Bài 1.5Bài 1.6Bài 1.7Bài 1.8Bài 1.9Bài 1.10Bài 1.11 .