Hồi ký Quảng Trị 1972 (1.2)

Mùa hè đỏ lửa

 

HỒI KÝ QUẢNG TRỊ CỦA MỘT ANH LÍNH HÀ NỘI (1.2)

Vũ Chí Thành - D3, E48, F320B - "Tử thủ Cổ thành"

 

 

Kỳ 3: Huấn luyện tân binh

 

Sáng hôm sau nghe phổ biến nhiệm vụ: các Tiểu đội chia thành tổ Tam tam (3 người) vào rừng đẵn gỗ nứa về làm nhà. Tổ Tam tam của tôi ngoài tôi làm tổ trưởng còn có Mai Quý Cường và Tôn, đều to cao như phi công cả. Chỉ tiêu ngày đầu mỗi người 1 cây gỗ bằng bắp chân, những ngày sau mỗi người 20 cây nứa. Chúng tôi phải leo những con dốc dựng đứng, đi rất sâu vào rừng mới tới nơi nứa mọc. Trai Hà nội lần đầu thấy những con vắt nâu đen, đứng trên những chiếc lá, quơ quơ cái vòi đánh hơi, thấy ngườihttp://linhsinhvien.vnweblogs.com/js/tinymce/plugins/more/img/trans.gif đi qua thì nhảy tanh tách đeo bám. Thấy những vạt rừng thưa có những cây bưởi dại, cây sung, cây vả quả đeo lúc lỉu và cây Dương xỉ đầy lông tơ vàng. Tôi chưa có kinh nghiệm chặt nứa nên bị 1 cây xiên xuống trúng mu bàn chân trái, mấy hôm sau làm mủ, đau nhức. Bắp chân nổi hạch, sưng to, nhưng tôi vẫn cố gắng cà nhắc đi làm, nên được Đại đội biểu dương. Sau hơn 1 tuần thì nơi ăn chốn ở đã ổn định. Mỗi tiểu đội ở 1 nhà lợp nứa, vách nứa, và có 1 chiếc giường tập thể lát nứa chạy dọc căn  nhà. Ngoài ra chúng tôi còn làm 1 hội trường lớn, 1 nhà ăn tập thể và 1 khu bếp cạnh suối. Sau đó chúng tôi đi nhận vũ khí, chủ yếu là AK47 và K3 có gắn lưỡi lê. Tôi được nhận 1 khẩu AK Balan có tay nắm phụ ở ốp phía trên và 1 bao xe 3 băng đạn trước bụng. Mỗi người còn phải đeo 2 quả lựu đạn tập và tự làm vòng tre để cắm lá ngụy trang sau lưng. Tôi đươc thuyên chuyển sang Trung đội 2 làm A phó A4. Ở Trung đội này tôi gặp lại bạn thân Quang Vinh và Ngô Duy Minh.

 

Mỗi buổi sáng sau kẻng báo thức, chúng tôi xuống suối đánh răng rửa mặt, làm vệ sinh cá nhân rồi tập thể dục theo Trung đội. Sau đó xuống nhà ăn ăn sáng, chủ yếu là bánh đúc ngô hoặc bột mỳ luộc, rồi ra thao trường tập luyện. Đến 11h về nghỉ ăn trưa, cơm độn ngô với bí đỏ xào, hoặc măng nứa xào, hoặc rau muống luộc, thỉnh thoảng mới có chút thịt. Có 1 tiểu đội „chịnuôi“ ở khu nhà bếp gồm các cô gái 18-20 tuổi, thỉnh thoảng thấy mấy vị cán bộ Đại đội, Trung đội xuống tán tỉnh. Buổi chiều lại tiếp tục ra thao trường. Sau bữa tối toàn Đại đội tập hợp, sinh hoạt tập thể như nghe đọc báo, văn nghệ cây nhà lá vườn hoặc nghe 1 vài cá nhân kể chuyện bản thân. 21h kẻng tắt đèn đi ngủ. Các tiểu đội đều có lịch gác đêm. Mỗi lần đến lượt tôi đều chọn 1 khẩu K63 gắn lưỡi lê, vừa gác vừa tập mấy bài cận chiến bằng lưỡi lê và bángsúng. Các bài huấn luyện cứ phức tạp dần, từ xếp đội hình đội ngũ, lăn lê bò toài, kỹ thuật xạ kích, ném lựu đạn, đánh bộc phá… đến kỹ thuật ngụy trang, chiến thuật Tiểu đội, Trung đội giữ chốt… Tóm lại là ngày nào cũng mệt nhoài, nhưng tinh thần chúng tôi rất hăng hái. Có những hôm trên đường đi tập về, nghe mấy cậu lính gốc gia đình buôn bán thất thểu vừa đi vừa rên rỉ mấy câu nhạc vàng: „Ngày mai anh đi/ lòng xao xuyến xa nơi Hà thành/ Đời lính chiến không mong ngày về/ Héo mòn cả tuổi xanh… “ hoặc „Mai mốt anh trở về/ Anh kéo lê chân què/ Cuộc đời anh sẽ bò lê/ Cuộc đời anh sẽ bò lê…“ là chúng tôi phản ứng dữ dội. Khi nghe 1 cậu hát „Yêu anh không phải vì đẹp trai, không phải vì sang giầu, mà cùng chung chí hướng…“ tôi quặc luôn: „Chí hướng gì? Chí hướng Bắc tiến diệt Cộng hả?“ làm cậu ta tịt ngóm. Đặc biệt là mỗi tuần có 2 buổi tập hành quân mang vác nặng. Anh nào cũng phải lèn gạch đá vào Ba-lô cho đủ 30kg, mang súng và tất cả trang bị trên người. Quãng đường hành quân càng ngày càng dài, lên núi xuống đèo, băng qua đồng ruộng, sông suối… Nhiều cậu mồ hôi ra như tắm, tôi thì lại không ra mồ hôi mấy. Buổi trưa trời nắng chang chang, khát khô cổ, chúng tôi vục cả nước ruộng để uống, mà không thấy đau bụng gì. Tuy nhiên tôi có cậu bạn tên Tân nhà ở số 10 Đoàn Trần Nghiệp, một hôm vì quá khát nên uống nước ở 1 mương nhỏ. Sau đó bị đau bụng khủng khiếp, kêu khóc vật vã, mắt vàng da vàng, phải đưa đi Trạm xá cấp cứu, nghe nói bị xoắn trùng. Có những buổi tập hành quân đêm trời tối đen như mực, người đi sau phải bám vai người đi trước, thế mà vẫn có cậu thụt xuống hố nước. Dần dần những địa danh Dốc Cun, suối Mon, bãi Nai… trở thành rất quen thuộc.

 

Ở Bãi nai được khoảng 3 tuần thì một buổi sáng Chủ nhật, gia đình tôi gồm bà Nội, mẹ tôi và 2 em Hà, Hiển lên thăm. Tôi được Trực ban Đại đội gọi ra Trạm đón tiếp cách doanh trại khoảng 200m để gặp gia đình. Tới nơi đã thấy nhiều người lố nhố, mỗi chỗ có một anh lính mới với người nhà ngồi vây quanh, chuyện trò rôm rả. Gặp lại tôi cả nhà mừng rỡ, đặc biệt là bà Nội và mẹ tôi, những người có tình thương con cháu vô biên, gần như mù quáng. Những anh lính mới như tôi được gia đình mang đủ thứ lên tiếp tế, nào là xôi chả, thịt gà, thịt lợn, ruốc thịt, bánh dày, bánhgiò… thứ ép ăn tại chỗ, thứ cho vào bao để cất ăn dần. Mẹ tôi kể chuyến này cùng đi còn có mẹ Quang Vinh và mẹ Phổ Thọ. Phổ Thọ gốc miền Nam tập kết, mẹ Phổ Thọ là Bác sỹ Bệnh viện Việt xô, thương con thì thôi rồi. Bà mang đòn gánh trên vai, một đầu treo 2 cái bánh Tét, đầu kia treo 1 con vịt, tính lên đến nơi sẽ làm thịt cho thằng Hai (Phổ Thọ) ăn. Ai ngờ khi lội qua suối Mon, nước lên đến bụng, bà bị trượt ngã, con vịt bơi theo dòng nước đi mất. Nhưng bà và con Ba (em Phổ Thọ) chỉ khóc thương cho thằng Hai sẽ không được ăn thịt vịt. Nói chung tôi biết các gia đình đều phải tằn tiện chắt bóp để tiếp tế cho chúng tôi, vì tiêu chuẩn thực phẩm tem phiếu thời chiến chẳng dư dả gì. Ngồi bên cạnh gia đình tôi là gia đình Mai Quý Cường, bạn cùng khu tập thể Nguyễn Công Trứ. Mẹ bạn ấy làm ở Quầy đổi bánh mỳ (đổi tem gạo lấy bánh mỳ) nên tôi rất quen mặt. Cường có cô người yêu mũm mĩm, nghe nói là nhân viên bán hàng ở phố Huế, đang ngồi đút cho Cường ăn từng miếng xôi chả rất tình tứ. Tôi tranh thủ đưa em Hiển, chú út của gia đình, vào thăm chỗ chúng tôi ăn ở. Hiển hồi đó 11 tuổi, có khuôn mặt bầu bĩnh, được tôi khoác khẩu AK vào cổ, đi đi lại lại, lấy làm khoái chí lắm. Sau khi tiễn gia đình về, trên đường trở vào Doanh trại, tôi đi cạnh Hoàng Hữu Hạnh. Mỗi đứa đều ôm 1 bọc tiếp tế trước bụng, tôi nhìn sang thấy Hạnh đang ngân ngấn nước mắt.

 

Kỳ 4:

 

Những tối thứ bảy, Chủ nhật, thường được nghỉ sinh hoạt, chúng tôi hay ra bản người Mường gần đó chơi. Nhiều cậu có tiền thì trèo lên những ngôi nhà sàn, mua rượu sắn ngồi uống, hoặc tán tỉnh trêu đùa các cô gái Mường. Người Mường rất hiền lành, thật thà, các cô gái hay mặc váy đen, áo trắng dài tay nhưng vạt ngắn cũn cỡn. Khi bị chúng tôi buông lời trêu ghẹo „Ủn ơi, ché Ủn có to không?“ (Em ơi, l. em có to không?) là các cô thẹn đỏ mặt bỏ chạy hết. Nhiều cậu khác hoặc không có tiền, hoặc không muốn ra ngoài chơi, thì túm tụm đánh bài Tiến lên. Có hôm, tôi cũng ngồi đánh bài cho vui, lúc tàn cuộc, quờ chân xuống giường tìm dép, thì đôi dép đúc Trung quốc được cấp phát đã không cánh mà bay. Chắc bị thằng nào ăn cắp đi đổi rượu uống rồi. Báo hại tôi phải báo về gia đình, nhờ ra chợ Giời mua cho đôi khác gửi lên. Tôi có thói quen ngày nào cũng viết Nhật ký, rồi đem cái kèn Harmonica thổi những bài tôi yêu thích. Người bạn nằm cạnh tôi cũng hay viết nhật ký, nhưng bằng tiếng Nga. Đó là anh Toàn già, người thấp bé, hơn chúng tôi chừng dăm tuổi, để ria mép, khuôn mặt lúc nào cũng rầu rĩ. Anh kể anh đã đi học nghề ở Nga 3 năm về, giờ lại bị bắt đi lính, nên rất bất mãn. Anh thường cáo bệnh nằm nhà, không đi tập luyện. Hình như về sau anh được loại ngũ, đúng như mong muốn.

 

Từ hồi còn đi học tôi đã luôn nghiêm chỉnh gương mẫu trong mọi việc. Mười năm liền là lớp trưởng, luôn đứng đầu lớp, nhiều lần đoạt giải thi Học sinh giỏi, Đội trưởng đội Cờ đỏ của trường… Tôi thường tâm niệm: đã là Học sinh phải học thật giỏi, là Công nhân phải sản xuất tốt, là người lính phải chiến đấu dũng cảm. Tuy nhiên cái nhìn và cách hành xử thẳng băng như vậy trong cuộc đời thường gặp phải nhiều chống đối, đặc biệt từ phía những kẻ xuất thân buôn bán, thành phần bất hảo, lưu manh đường phố, vì nhiều đứa như vậy cũng được gọi nhập ngũ đợt này. Chúng cho tôi là một tên „Bôn sệt“, và nhiều khi tỏ ra khó chịu, khi bị tôi với tư cách A phó nhắc nhở chấp hành nghiêm kỷ luật. Thậm chí có tên còn dọa sẽ „trùm chăn đánh hội đồng“ tôi. Nhưng sau lưng tôi luôn có nhiều người bạn chí cốt ủng hộ, đặc biệt là anh Long „cồ“. Anh người to cao như gấu, khuôn mặt bèn bẹt có cái mũi sư tử trông rất ngầu. Anh thường rủ tôi lên đồi tập võ Tàu, và lớn tiếng tuyên bố: „Tao với thằng Thành là anh em kết nghĩa, đứa nào đụng đến nó nghĩa là đụng đến tao, tao sẽ cho ăn quết trầu bét nhè“. Thế là chả đứa nào dám đụng đến tôi cả. Tôi cũng rút ra được phương châm hành xử trong đời lính, là luôn phải „Khôn ngoan đứng đắn/ Thân mật tươi cười/ Nắm được lòng người/ Kịp thời cương quyết“.

 

Anh bạn Quang Vinh của tôi ở A5 cùng nhiều bạn học sinh khác cũng phải chịu cảnh tương tự. Anh bị mấy tên bất hảo ở A5 đe dọa, ton hót nhiều chuyện bịa đặt với A trưởng để cô lập anh. Anh rất buồn và thường gặp tôi để tâm sự. Tình hình A6 cũng chẳng khá hơn. Tôi vẫn nhớ cậu Khánh ở Vân hồ, người thư sinh mảnh dẻ, có khuôn mặt như con gái, bị lão Lân A trưởng A6 rất ghét, hay kiếm cớ chửi mắng, nhiều hôm bị lão phạt quỳ ở ngoài sân. A6 còn có cậu Lâm Thành, thuộc loại thấp bé nhẹ cân, nhưng lại hay bị sai đi khiêng thực phẩm.

 

Hòa Bình là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Thủ đô, nên thỉnh thoảng thấy máy bay Mỹ đi tập kích Hà nội bay qua. Có những hôm thấy những sợi giấy bạc lấp lánh mỏng manh bay trắng trời, như một cơn mưa mỳ sợi bằng bạc, rơi phủ đầy cây cối và mặt đất, về sau tôi mới biết đó là do máy bay Mỹ thả nhiễu thụ động để chống Ra-đa phòng không.

 

... (còn nữa) - LSV (g/th)

 

***

Xem các bài khác bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

Bài 1.1Bài 1.2Bài 1.3Bài 1.4Bài 1.5Bài 1.6Bài 1.7Bài 1.8Bài 1.9Bài 1.10Bài 1.11 .