Hồi ký Quảng Trị 1972 (1.1)

Mùa hè đỏ lửa

 

HỒI KÝ QUẢNG TRỊ CỦA MỘT ANH LÍNH HÀ NỘI (1.1)

Vũ Chí Thành - D3, E48, F320B - "Tử thủ Cổ thành"

 


 

Lời giới thiệu:

 

Anh Nguyễn Quang Vinh, một CCB Thành Cổ Quảng Trị, hiện đang định cư tại CHLB Đức, tác giả tập "Hồi ký Quảng Trị 1972 của một anh lính Hà Nội" rất chân thực và cảm động. Anh viết tập hồi ký này dưới bút danh Vũ Chí Thành (người đồng đội thân nhất của anh, nhà ở chợ Giời, đã hy sinh ngày 17/01/1973 ở QT). Vừa qua anh đã cho LSV được sưu tầm tập Hồi ký này trên FB của anh để đăng tải lên blog phục vụ đồng đội, để cùng nhớ về những kỷ niệm sâu sắc trong chiến trường Quảng Trị B5 ngày xưa.

 

http://linhsinhvien.vnweblogs.com/js/tinymce/plugins/more/img/trans.gifVài nét về tác giả: 

 

Nguyễn Quang Vinh. SN 1954 tại HN. Nhập ngũ 27.04.1972. Huấn luyện tai Bãi Nai, Lương Sơn, Hòa Bình, thuộc C49, D58, E59, BTL Thủ đô. Hành quân vào Nam tháng 8.1972, chiến đấu ở MT B5 Quảng Trị. Đơn vị chiến đấu: C11, D3, E48, F320B. Cuối tháng 12.1972 bị thương ở chốt Long Quang, Triệu Phong. Được đưa ra Bắc điều trị rồi đi học tiếp. Hiện nay đang định cư ở CHLB Đức.

Chân thành cảm ơn anh Nguyễn Quang Vinh đã cho đăng tải tập Hồi ký này trên blog LSV. Trân trọng giới thiệu với đồng đội và bạn hữu. (LSV)

 

***

 

HỒI KÝ QUẢNG TRỊ 1972

 

Lời nói đầu.

 

Chúng tôi là những thanh niên Việt Nam đầy nhiệt tình yêu nước. Mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm, chúng tôi sẵn sàng hiến dâng dòng máu nóng để bảo vệ Quê hương, để không hổ danh là con cháu của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…. Đài báo nói với chúng tôi rằng, Đế quốc Mỹ đang xâm lược miền Nam, chính quyền Sài gòn là bọn Lê Chiêu Thống mới đang tâm bán nước, rước voi về giày mả tổ, đồng bào miền Nam đang rên xiết cực khổ dưới gót giầy đô hộ….Vậy thì còn chần chờ gì nữa, phải xông ra chiến trường tiêu diệt hết chúng nó đi, giải phóng cho Quê hương đồng bào.

 

"Thù nước lấy máu đào đem báo

Dù cho phơi thây trên gươm giáo…"

"Chết vì dân vì nước tại trận tiền

là cái chết thiêng liêng cao cả…"

"Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi…"

 

KỲ 1 - Nhập ngũ.

 

Ngày 16.04.1972 máy bay Mỹ ném bom trở lại Hà nội, sau gần 4 năm ngừng oanh kích.

 

Khoảng 11 giờ trưa còi báo động từ phía Nhà hát lớn rú vang, rồi tiếng súng cao xạ nổ ầm ầm. Tôi chạy từ trong lớp học ra ban công tầng 2 Trường PTCN Hai bà Trưng, ngó lên bầu trời. Những chiếc phản lực Mỹ hình vỷ ruồi nhỏ xíu, mình bạc cánh đen, đang lao vun vút trên thành phố, phía sau chúng là từng đám hoa khói của đạn cao xạ nổ lụp bụp. Nhà trường cho học sinh nghỉ học. Thành phố ban bố lệnh sơ tán.

 

Ngày hôm sau chỉ mình tôi đạp chiếc xe đạp Mifa nhỏ xíu chở theo đồ đạc lên chỗ sơ tán. Đó là làng Giang Xá, gần Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, nơi chúng tôi đã từng ở sơ tán từ 06.1966 đến 07.1969. Tôi lại đến nhà bà Phó Tiến ở xóm Trong xin ở nhờ. Đó là một bà già nông dân tốt bụng, ở một mình trong căn nhà lá 5 gian và một khu vườn rộng. Các con bà, anh con trai cả và cô con gái thứ, đều đã có gia đình và ra ở riêng cả. Bà chỉ xót xa cậu con út, chú Hinh, đi bộ đội đã mấy năm mà không có tin tức gì. Bà vẫn thường kể từ ngày chú Hinh cùng đơn vị "kéo cờ lên đường" sang Cao Miên là bặt vô âm tín. Đến hôm trước thì hôm sau tôi đã ra vườn giúp bà làm việc: dọn dẹp bóc lá mía, tưới khoai tây, trèo hái ổi cho bà đi chợ bán… Những lúc nhàn rỗi tôi lại dở sách ra ôn tập, lòng bâng khuâng tự hỏi, còn vài tháng nữa là thi tốt nghiệp lớp 10 và thi Đại học, không biết rồi sẽ ra sao đây? Một buổi chiều tôi ra ngồi câu cá ở ao sau vườn, nhìn bầu trời trong xanh phản chiếu xuống mặt ao, lại nhớ  hơn 4 năm về trước, từ chỗ này tôi đã quan sát cảnh đoàn máy bay Mỹ vào ném bom Hà Nội. Khi quay ra chúng bay khá tán loạn, cái lao lên cái nhào xuống, lăn lộn cố thoát khỏi lưới lửa phòng không nhiều tầng nhiều lớp. Khẩu thượng liên 12,7ly trên cổng làng Giang xá cũng nổ từng loạt giòn giã, xen lẫn những tiếng bì bọp của súng trường dân quân du kích. Đang mơ màng hồi tưởng thì chợt thấy phao nhấp nháy rồi bềnh lên, tôivội giật cần. Một chú trắm đen bằng cổ tay bị lôi lên bờ, giãy đành đạch và phát ra những tiếng kêu chít chít nghe rất lạ. Chợt có Huệ, cô bạn học cùng lớp sơ tán hồi trước, sang chơi. Huệ người làng này, là em của Giang, người bạnthân nhất của tôi thời sơ tán, tuy là 2 anh em nhưng lại học cùng 1 lớp với tôi. Từ hôm về đây tôi chưa tới thăm bạn cũ nào cả. Huệ cho biết Giang đã nhập ngũ được mấy tháng, thanh niên làng này đã đi bộ đội vãn cả, ở làng hầu như chỉ còn phụ nữ, trẻ con và người già. Ai ngờ đó là lần cuối cùng tôi biết tin Giang, hai mươi mấy năm sau mới có dịp lần hỏi tin tức, thì được biết Giang đã hy sinh ở chiến trường B5 rồi.

 

 

 

Từ trái sang: Chí Thành, Quang Vinh, Tiến Dũng. Ba chàng Ngự lâm pháo thủ của lớp 10B Trường PTCN Hai Bà Trưng, 10.1971.

 

KỲ 2

 

Dạo này tình hình chiến sự ở miền Nam đang cực kỳ sôi động. Từ cuối tháng 03.1972 quân ta đã đồng loạt mở các cuộc tấn công lớn  ở 3 mặt trận Quảng trị, Bắc Tây nguyên và Lộc ninh/An lộc. Hàng ngày chiếc loa phóng thanh trên nóc đình làng vẫn oang oang thông báo những tin thắng trận liên tiếp. Đặc biệt ấn tượng là tin cả 1 Trung đoàn quân Ngụy do Trung tá Đính cầm đầu ra hàng Quân giải phóng. Kiểu này thì chắc sắp giải phóng miền Nam đến nơi rồi. Tuy nhiên buổi tối trước hôm đi sơ tán tôi có bật Radio nghe trộm đài Gươm thiêng ái quốc của Sài gòn, thì thấy nói „xác của hàng ngàn thiếu niên Bắc Việt đang rải khắp các chiến trường miền Nam trong cuộc tấn công này“.

 

Ở nơi sơ tán được gần 1 tuần, bỗng một buổi sáng, Tiến Dũng, người bạn cùng lớp thân thiết nhất của tôi tìm tới. Tiến Dũng thông báo rằng tôi đã có giấy gọi nhập ngũ, và bố mẹ tôi nhờ Tiến Dũng vào báo tin cho hộ. Tôi vội vàng thu dọn đồ đạc trở về ngay Hà nội. Trong giấy có nói 9h sáng ngày27.04.1972 tôi phải có mặt ở Tây tựu, huyện Từ liêm để nhập ngũ. Như vậy là chỉ còn vài ngày nữa thôi. Thực sự hồi đó tôi cũng hơi bị bất ngờ. Cho đến những ngày đó, chiến tranh đối với tôi dường như là sự việc của những người khác, ở một nơi nào đó xa lắc, và chỉ tồn tại trong những bản tin của báo, đài. Hơn nữa tôi chưa tròn 18 tuổi, là một trong những học sinh giỏi nhất trường. Những học sinh như vậy sau khi tốt nghiệp lớp 10 thường được các trường Đại học của Quân đội hoặc Công an đến chiêu sinh, hoặc được các Binh chủng kỹ thuật như Không quân, tên lửa, xe tăng, pháo binh đến thu nạp, chứ ít khi phải đi lính trơn "Bò binh" như thế này. Tôi tranh thủ lên thăm gia đình cô An ở Nông trường Tam đảo 1 ngày. Những ngày còn lại lo mua sắm vài vật dụng cần thiết, và cùng gia đình đi chụp ảnh kỷ niệm. Những bức ảnh chụp đại gia đình hồi đó, gồm bố mẹ tôi, 2 em Hà Hiển cùng bà Nội, bà Ngoại vẫn còn đến ngày nay. Nhìn nét mặt người nào cũng đượm vẻ lo âu và buồn rười rượi. Buổi sáng ngày 27.04.1972 cả gia đình đưa tiễn tôi đến nơi tập trung tại xã Tây tựu, ngoại thành Hà nội. Đến nơi đã thấy rất đông người. Cùng lớp tôi có các bạn Quang Vinh, Lê Thanh Bình, Phổ Thọ. Bạn Tiến Dũng chạy theo chúng tôi suốt, và rất muốn đi cùng cho vui, nhưng bạn ấy không có Giấy gọi mà cũng không có tên trong danh sách. Sau nàytôi nghĩ chắc người họ hàng của Tiến Dũng làm trên Khu đội đã ỉm giấy của bạn ấy đi. Nhà tôi gần nhà Quang Vinh nên mẹ Quang Vinh bắt 2 đứa phải khoác chặt tay nhau để "cùng đi cùng ở". Tôi còn nhận ra 1 số khuôn mặt quen thuộc hoặc ở cùng Khu tập thể như Mai Quý Cường, Dũng "Patinhom", Vân số 6, Bình "Cống", Châm "thối tai", Ngô Duy Minh, Bùi Ngọc Toàn 10A…. Có 1 tay đeo Sắc-cốt lụng thụng, đi lại bắng nhắng, làm bộ phỏng vấn mọi người, nói nhiều câu đao to búa lớn, có biệt danh là Nhuận "nhà báo". Không ngờ sau này hắn là 1 trong những tên đảo ngũ đầu tiên. Sau khi nhận quân trang gồm quần áo, mũ dép, chăn màn, bi-đông… tôi được phân về Tiểu đội 3, Trung đội 1, C49, D58, E59 Bộ tư lệnh Thủ đô. Tiểu đội trưởng Thành 19 tuổi, nhập ngũ trước chúng tôi 1 năm, mới đi học A trưởng về, mặc bộ quân phục bạc phếch, hay cười khoe chiếc răng khểnh, và tỏ ra rất thân thiện với tôi. Buối tối đầu tiên đời bộ đội, toàn Trung đội tập hợp ở sân Đình, nghe quyền trung đội trưởng Nghĩa huấn thị. Anh Nghĩa 23 tuổi, là người vui tính thích thơ ca hò vè, nhưng cũng rất nghiêm, làm chúng tôi nể sợ răm rắp. Anh bắt nhịp cho chúng tôi đồng ca bài "Vì nhân dân quên mình", rồi đọc 1 bài vè rất ngộ về lính mới ở Bãi Nai, Hòa bình làm mọi người cười vui vẻ. Tôi được chỉ định làm A phó A3.

 

Sáng hôm sau cả lũ kéo nhau ra giếng ao gần đó đánh răng rửa mặt, tôi gặp Lục Thế Bảo và Liêu Quốc Định, tán gẫu vài câu, rồi mỗi đứa được phát 1 cái bánh mỳ để ăn sáng. Đúng 7h30 Đại đội tập hợp điểm danh, phổ biến lệnh hành quân, sau đó theo đội hình hàng dọc lên đường. Sau khoảng 2 tiếng đồng hồ, tự nhiên tôi thấy mình đang đi trên bờ 1 con kênh quen quen, giống như con kênh ở gần làng Giang xá. Tôi nghĩ bụng chắc sắp đi qua làng, biết đâu gặp được vài người quen nào đó. Nhưng không, đi một lúc nữa thì thấy mình đang ở vùng Sấu Giá rợp bóng dừa xanh, với những người dân nói tiếng trọ trẹ rất khó nghe. Trời tối mịt một lúc lâu thì chúng tôi tới nơi. Đó là 1 sườn đồi thoai thoải trongvùng rừng núi Bãi Nai, huyện Kỳ sơn, tỉnh Hòa bình. Một lô nhà lán lợp nứa đứng xiêu vẹo. Chúng tôi chia nhau mỗi Tiểu đội vào 1 nhà, đứa nào cũng mệt rũ. Tôi lần mò lấy ra gói sữa bột, hòa vào bát nước chè để uống, rồi rải chiếu ra nằm ngủ như chết.

 

... (còn nữa) - LSV (g/th)

***

 

Xem các bài khác bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

Bài 1.1Bài 1.2Bài 1.3Bài 1.4Bài 1.5Bài 1.6Bài 1.7Bài 1.8Bài 1.9Bài 1.10Bài 1.11.