Tặng phẩm đầu tiên (PTH)

02/06/2016,20:05:45 | 445 | 0

Đồng đội viết

 

TẶNG PHẨM ĐẦU TIÊN

Phạm Thành Hưng.

 

 

Như Thìn: "Khi dân còn nghèo, bụng còn đói thì tượng Bác.... không thể thay cơm được". Xin mạn phép chia sẻ bài viết của anh bạn đồng ngũ lính chiến QT, đồng môn, Phạm Thành Hưng.

 

Các nhà nho cả bên Tàu lẫn bên ta thường bảo nhau: “Lập thân tối hạ thị văn chương”. Tôi nghĩ, khi các cụ thấy khổ và buồn thì nói thế thôi, chứ chẳng có ý khuyên người đời xa lánh văn chương. Văn chương dẫu có làm các cụ buồn chăng nữa, thì nếu có được tái sinh mà làm lại cuộc đời, chắc các cụ vẫn sống với văn chương, vẫn lấy nó làm niềm vui, cứu cánh và đôi khi còn dùng làm vũ khí trong suốt cả cuộc đời. Tôi biết câu châm ngôn trên từ bé, nhưng chỉ thấy thấm thía nhất vào cái ngày đi nhận tặng phẩm văn học đầu tiên.

Chuyện này đã trôi qua gần một phần tư thế kỷ. Dạo ấy lớp văn Đại học Tổng hợp Hà Nội chúng tôi bước vào đợt thực tập tốt nghiệp. Trường Tổng hợp chưa có khoa Báo chí nên sinh viên Khoa Ngữ văn có thể thực tập trong mọi lĩnh vực, có thể viết báo, viết văn, sưu tầm ca dao, cổ tích các kiểu. Lớp tôi được chia làm hai đoàn. Đoàn thứ nhất khá đông đảo, ai cũng thích đi, vì được coi là đoàn xung kích, đi Quảng Ninh viết “Gương người tốt việc tốt”. Đoàn thứ hai phần lớn gồm những người ốm yếu, “hoàn cảnh” thì ở lại Hà Nội, cũng đi tìm gương người tốt việc tốt mà viết. Lúc đó Hà Nội không giống như bây giờ, hầu như không có “người xấu việc xấu”, rất dễ tìm các “điển hình xã hội” nên Giáo sư Hà Minh Đức lập một đoàn tiến thẳng vào Quân y viện 108 để viết về các bác sĩ cùng thương binh của Viện. Đúng là thời đại “Ra ngõ gặp anh hùng”. Bạn bè tôi nhiều người vừa bước vào cổng Viện đã tìm được ngay đề tài để viết. Tôi tin vào sức mình nên có phần đủng đỉnh, chờ vài ngày mới đến Viện.

Tuy vậy, khi bắt tay vào cuộc, mọi chuyện không suôn sẻ chút nào. Tôi được cử về Khoa Phẫu thuật tạo hình, nơi Giáo sư quá cố Nguyễn Huy Phan làm Trưởng khoa. Nhà phẫu thuật nổi tiếng này đã kiên trì giảng giải cho tôi hàng chục thuật ngữ y học và kể cho nghe khá nhiều ca mổ phức tạp.

Ông còn mời tôi mặc áo blu trắng tham gia các ca mổ, nghĩa là tôi sẽ được phép đứng cạnh ông quan sát, ghi chép. Khổ một nỗi là tôi rất dị ứng với thuốc sát trùng và mùi bệnh viện nói chung nên đã tìm mọi cách thoái thác. Hơn một tháng trôi qua mà tôi không dám dự một ca mổ nào. Hơn nữa, các khái niệm y học mà ông giảng giải, tôi không lĩnh hội nổi. Tôi viết, đưa ông xem ba bài, ông lắc đầu cả ba. Ông bảo tôi: 

-Mọi khái niệm y học chuyên ngành của tôi đều bị cậu xuyên tạc, cậu hiểu chúng theo kiểu văn học. Chúng tôi mà mổ theo cậu viết thì ngoẻo hết, bác sĩ thành lũ sát nhân. Mà sao không thấy cậu vào xem tôi mổ nhỉ?

Thời gian trôi rất nhanh. Sắp hết thời hạn nộp đề cương bài viết mà tôi vẫn chưa biết viết gì. Rất may, một hôm tôi đọc mấy trang lưu niệm của một thương binh trong cuốn sổ truyền thống của bệnh viện. Người thương binh kể rằng: trong chiến đấu anh bị mảnh đạn súng cối Mỹ chém bay mất quai hàm, mất từ vành môi dưới trở xuống. Vì vậy anh không ăn được, không nói được, bác sĩ Phan và tập thể Khoa Chỉnh hình đã làm lại cho anh tất cả ba thứ: răng, hàm, môi. Anh lại ăn, nói được như cũ…

Chuyện đại khái như vậy. Nếu tôi dựa vào đó, viết một bài báo cho tờ Quân đội nhân dân chắc chắn tôi sẽ được in, có nhuận bút ngay. Mà khi bài đã được sử dụng rồi, thầy Đức sẽ đánh giá cao, cho điểm thực tập tốt. Nhưng câu chuyện của người thương binh này kích thích trí tưởng tượng của tôi, tôi không nỡ để câu chuyện cảm động này bị “bỏ rọ” trong vài cột báo. Tôi muốn chuyện của anh ta phải thành hình tượng, có số phận, đường đời. Hơn nữa phải thông qua chuyện của bệnh nhân để ghi nhận công lao của bệnh viện, ca ngợi chiến công của những chiến sĩ quân y, đúng như yêu cầu của bài viết “Kỷ niệm sâu sắc chống Mỹ cứu nước”. Thế là tôi quyết định viết một bài dài, kể lại quá trình phục hồi khuôn mặt của người thương binh, từ đó khẳng định những đóng góp khoa học và thành tích của bác sĩ Nguyễn Huy Phan.

Tôi chỉ viết ba ngày đã xong. Truyện được đặt tên là Tiếng mẹ trở về. Thật ra kiểu đặt tên này hơi rắc rối và có mùi cải lương sướt mướt, bởi vì, “tiếng mẹ” mà tôi dùng ở đây không phải là tiếng của một bà mẹ mà là âm tiết “mẹ”, là tiếng người ta gọi mỗi khi đau khổ, mỗi khi cần được một sự chở che. Đồng cảm với nỗi đau và sự bất hạnh của người thương binh nọ, tôi tưởng tượng: Khi người Việt nam (cũng như nhiều dân tộc khác) kêu lên tiếng “mẹ”, đều phải kêu lên bằng hai vành môi, đều cần đôi môi. Người thương binh nọ khi bị thương mất vành môi dưới ắt sẽ có lúc đau đớn gọi mẹ mà không gọi được, không phát âm lên được, cái âm ấy sẽ chỉ phát ra như một tiếng phì hơi. Tiếng mẹ chỉ vang lên trong lòng, với cái cảm giác bất lực, tuyệt vọng, biến thành thứ ngôn ngữ nội tâm. Sau một năm mất tiếng nói, nửa năm sống trong câm lặng, người thương binh nọ đã được bác sĩ Phan và tập thể thầy thuốc Quân y viện 108 ghép xương quai hàm. Làm lại toàn bộ răng hàm dưới, đắp thịt, vá da, tạo lại vành môi dưới. Cuối cùng anh thương binh đã có khuôn mặt mới, đã dám soi gương ngắm khuôn mặt tái sinh của mình. Sau một năm im lặng, anh sung sướng kêu lên tiếng kêu đầu tiên: mẹ ơi. Tiếng mẹ ở đây được phát âm từ nửa đôi môi tự nhiên, nửa đôi môi nhân tạo. Đó là tiếng gọi thiêng liêng, thấm đượm tình đồng chí, đồng đội và là thành quả của y học hiện đại.

Bài ký viết xong lập tức được hai nhà thơ quân đội đang diều trị trong viện rỗi rãi nằm đọc rất kỹ. Hai anh khen hay. Thầy trưởng đoàn phê: “Hấp dẫn, có cảm xúc”, còn nhà văn Vũ Sắc – người phụ trách ban vận động viết kỷ niệm chống Mỹ, thì chê là: “ướt át, thiếu cái gồ ghề, chân thật của ký”. Tôi nửa vui, nửa buồn nhưng thở phào, coi như xong một việc. Ít nhất thì tôi cũng đã hoàn thành chương trình thực tập, được xếp loại ưu. Còn việc trước mắt là lo làm luận án mà ra trường.

Mấy tháng sau tôi nhận được hai tin vui cùng một lúc. Hóa ra trong hai tháng thực tập tại Hà Nội tôi đã không uổng phí tâm lực: thằng em đậu đại học điểm cao, còn bài ký nọ được trao tặng phẩm xuất sắc trong năm. Thời ấy, cùng với báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội là hai tờ báo văn nghệ sang trọng nhất và cũng gần như duy nhất. Vậy mà Văn nghệ quân đội in tên tôi rành rành, chữ nào chữ ấy to như hạt đỗ đen. Mặc dù biết trước đó tôi đã được in một vài truyện ngắn, bạn bè trong lớp tôi vẫn kéo nhau đến chúc mừng. Thực ra họ mừng thì ít mà gạ tôi dẫn đi khao thì nhiều. Vì mắc bệnh “sĩ” và tính hay cả nể, hai tuần sau túi tôi đã sạch nhẵn không còn đồng nào. Sang tuần thứ ba thì tôi buộc phải ghi sổ nợ các hàng kẹo lạc, tục gọi là “cắm quán”. Của đáng tội, bạn bè đến chúc mừng tôi toàn những ông mắc bệnh đói kinh niên và gạ ăn cực tài. Thôi nào Cao Vũ Trân, Nguyễn Thế Tường, Đào Anh San,… Bây giờ họ đã là những nhà văn, nhà báo, nhà giáo khả kính cả đấy, nhưng lúc đó toàn đứng ra làm trưởng đoàn gạ khao, “đánh hơi” cực tài, cứ phát hiện ra anh nào trong lớp có tin vui là rủ nhau đến chúc mừng, nhưng thực chất là bắt vạ. Tôi đã trở thành nạn nhân, nghĩa là phải dẫn “đoàn” ra quán nước. Tại đó, khổ chủ tha hồ nói, phái đoàn chỉ ngồi nhai, tai có nghe nhưng chỉ ậm ừ tán thưởng, nếu khổ chủ nói say quá, đến khi bà chủ quán tính tiền, cả bọn mới đần mặt ra.

Mấy tháng nữa lại trôi qua, cái tin vui của tôi cũng nhạt dần. Chờ đợi mãi, cuối cùng tôi cũng được thông báo là: năm tới, bài ký sẽ in trong tuyển tập, nhưng trước hết mời tác giả lên nhận tặng phẩm. Nghe tin đó tôi hơi buồn, vì bài chưa in thì chưa có nhuận bút, tặng phẩm lúc đó chỉ là hiện vật, mà tôi thì đang cần tiền. Tổng cộng tôi đã nợ bà chủ quán đến 30 đồng. Đó là một khoản tiền không nhỏ, ngang với nửa tháng lương kỹ sư bậc một lúc đó. Bà chủ quán biết tôi không đủ khả năng thanh toán nhưng cũng không lên báo khoa vì nghe phong thanh rằng tôi vẫn ở lại trường, làm cán bộ giảng dạy, trốn đâu được, bà lại tỏ ra nhân hậu với tôi, chưa báo vội.
Lúc bấy giờ thầy trò Trường Đại học Tổng hợp cũng như nhân dân cả nước đang trải qua những tháng năm gian khổ nhất của thời hậu chiến. Đánh Mỹ xong rồi, thống nhất đất nước rồi, nhưng ta chẳng thấy có gì ngoài tự do, độc lập. Giáo sư Đỗ Đức Hiểu bấy giờ sau chuyển đi dạy ở miền Nam về chỉ được vài chục đồng, rụt rè đưa cho bà giáo. Ngồi với đám giáo viên trẻ chúng tôi, thầy tủm tỉm cười, khái quát: “Trong Nam chỉ có hai thứ rẻ nhất thôi anh ạ, một là đồ nhựa, hai là… thỉnh giảng.”Thầy nói rồi chúm chím đôi môi, ngửa mặt lên cao, cười không thành tiếng. Thầy cười với bầu trời xanh.

Đúng vậy, bấy giờ cả nước đều nghèo. Khi còn sinh viên chúng tôi được tiêu chuẩn 17kg gạo, ra trường, nghĩa là làm cán bộ nhà nước, chỉ còn được hưởng 13kg gạo, “mất hẳn” 4kg. Ăn bếp ăn cán bộ, cứ khoảng 10 giờ trưa là chúng tôi đói mờ mắt. Nhiều lúc tôi tự nhủ: Lẽ ra mình lưu ban thêm một năm thì đỡ đói! Đang tuổi ăn khỏe, ngủ khỏe, lương không đủ sống, tôi buộc phải nói dối mẹ là chưa ra trường để khỏi mất khoản “lương quê” mẹ cấp hằng tháng.

Một buổi sáng nọ, tôi nghe phòng bên có tiếng người đọc thơ: 

Thủa ta chưa ra đời thì đường rộng thênh thang
Kịp đến khi có ta thì chông gai mênh mang.

Giọng thơ ngâm ra chiều cảm khái, có vẻ như bắt trước giọng của thầy Hoàng Như Mai. Tôi vội chạy sang. Đó là ông bạn đồng khóa của tôi. Nay là PGS. Nguyễn Bá Thành. Tôi hỏi:

Ông nghĩ đến cảnh thời thế hay sao mà buồn vậy?

Anh Thành nhìn tôi bằng cặp mắt mờ đục, một lúc sau mới bật lên hai tiếng, mà tiếng địa phương, nghe rất nặng nhọc:

Tợ đọi.

Ông bảo sao?

Tôi hỏi lại. Anh Thành cau có, không thèm trả lời, chỉ đưa ngón tay chọc vào mồm rồi lại chọc vào bụng. Thì ra vậy. Tôi bảo anh:

Tôi cũng đang đói. Hay là ta bỏ quách suất cơm nhà bếp trưa nay. Ông biết đấy, tôi có cái tặng phẩm Văn nghệ quân đội chưa lĩnh. Ông với tôi ra Tòa soạn lĩnh, đem bán đi, có tiền, ta chén cái gì đó.

Đôi mắt bạn tôi sáng lên, trong vắt, cùng với tiếng kêu:

Tuyệt vời!

Tôi vội về phòng mặc quần áo nghiêm chỉnh, lục tìm chứng minh thư. Anh Thành bơm lại bánh sau xe đạp để đèo. Chiếc xe cọc cạch, chúng tôi gò lưng đèo nhau mà dọc đường chuyện vẫn giòn như pháo rang. Anh Thành tỏ ra phục lối sống thực tế của tôi. Xưa nay các tặng phẩm kiểu như tôi sắp nhận thường được các tác giả trân trọng giữ làm kỷ niệm, vậy mà tôi lại quyết định bán di để lấy tiền đãi bạn, nhất là khi biết bạn đang đói. Hành động như vậy, vừa là nghĩa hiệp vừa chứng tỏ cũng là tay già dơ trong nghề cầm bút rồi. Chúng tôi thi nhau đoán tặng phẩm. Người thì đoán là chiếc đồng hồ báo thức, người thì đoán là chiếc phích Rạng Đông hoặc chí ít cũng là chiếc bút máy Kim Tinh. Sợ tôi nhận tặng phẩm xong lại thay đổi ý định, anh Thành còn bồi thêm cho tôi một đòn rất kín:

“Thủa hàn vi khi chưa nổi tiếng lắm có lần Hêminuê, nhận tiền nhuận bút xong còn cho không bà quét dọn tòa soạn”. Câu này tôi biết anh bịa 100%, nhưng khi được anh có nhã ý xếp vào hàng Hêminuê, tôi cũng thấy khoan khoái.

Bước vào cổng số 4 phố Lý Nam Đế, tôi rất xúc động. Anh Thành thì tỏ ra hồi hộp và rất sợ tôi lộ ra ý định lĩnh tặng phẩm đem bán. Các nhà văn quân đội ở đây mà biết chuyện này, họ cười chết. Một lúc sau tôi mới được nhà thơ Hồ Khải Đại rót chè đặc, tiếp trong phòng khách. Nhà thơ bắt đầu giải thích lý do vì sao không tổ chức được lễ trao tặng phẩm. Anh nói nhiều, đủ cả nguyên nhân chủ quan đến khách quan, nhưng chúng tôi nghe không thủng. Uống chè đặc vào chúng tôi càng thấy xót ruột. Kết thúc bài diễn văn quan trọng, nhà thơ quân đội nọ trịnh trọng đặt vào tay tôi chiếc hộp khá to lấm tấm bụi. Khi trao anh còn nhấn mạnh: “Đây không phải hàng sản xuất hàng loạt đâu, nguyên tác của chính tác giả đó”.

Chúng tôi ôm tặng phẩm, nhanh chóng thoát khỏi tòa soạn. Như hai tên ăn trộm, chúng tôi rẽ vào một quán nước vắng người để mở chiếc hộp. Đã gần 12 giờ trưa, đói lắm rồi. Tôi ước lượng có dễ tôi và anh Thành lúc này có thể ăn ba bát phở cùng một lúc. Anh Thành nhanh nhẹn cắt dây, lột giấy bọc ngoài. Tôi thấy tim mình đang đập thình thịch thì đứng lại. Bởi vì chiếc hộp khi bung ra, trước mắt chúng tôi không phải là chiếc đồng hồ mà là pho tượng Hồ Chủ tịch. Cả hai chúng tôi nín lặng. Tôi cảm giác rất rõ mồ hôi mình đang ứa ra ở tất cả các lỗ chân lông. Tôi gói pho tượng lại thật nhanh. Anh Thành, giống như người vừa ném đồng xu cuối cùng vào chiếu bạc, thở dài, trả tiền bà hàng nước rồi quát lên:

Bán sao được. Thôi đi về!

Tôi tranh phần đạp xe, hy vọng chuộc lỗi và hy vọng cả tới suất cơm trưa còn lưu trong nhà bếp Mễ Trì. Thật họa vô đơn chí, chiếc xe lại bị thủng săm dọc đường và sau đó liên tục bị tuột xích. Anh Thành nguyền rủa thậm tệ chiếc xe đạp của mình. Tội nghiệp chiếc xe. Nó có cái khung là khung Sài Gòn, chiến lợi phẩm của anh Thành sau chiến dịch Hồ Chí Minh, còn phụ tùng đều là hàng gia công cả. Tuy vậy, nó đã gắn bó với anh suốt mấy năm liền như một con ngựa già chung thủy. Giận cá chém thớt nên anh mới quát tháo thế thôi, chứ nó có tội tình gì? Chẳng thà anh cứ chửi thẳng vào mặt tôi. Oan cho nó quá. Ấy là chưa tính tới chuyện lúc này: nó phải chở 3, quá tải: chở tôi, anh và … Bác nữa.

Về tới tận phòng tôi mới dành thời gian ngắm tặng phẩm của mình. Đó là pho tượng có đế sơn mài và ba hàng chữ thiếp vàng rất đẹp. Đây là pho tượng Bác ở chiến khu trong bộ quần áo nâu sồng, Bác đang ngồi dịch lịch sử Đảng. Tôi thấy bút pháp của tác giả điêu khắc này quá hiện thực nên để Bác hơi gầy, đúng là cái thời Bác phải sống bằng “cháo bẹ rau măng”. Tôi nhìn sang anh Bá Thành và phải dụi mắt không hiểu sao tự nhiên tôi thấy anh giống Bác Hồ kinh khủng. Cả hai bác cháu đều gầy!

Rồi cũng đột nhiên, anh Thành ôm chầm lấy tôi, gục đầu vào vai tôi mà cười, cái lối cười “cụ Bá Kiến” nổi tiếng của anh: ngằn ngặt, thong thái, hào sảng nhưng có chức năng… giải tỏa. Tôi cũng ôm anh mà cười, nhưng càng cười, dạ dày hai đứa càng thắt lại, để rồi nước mắt ứa ra…

Vậy mà đã một phần tư thế kỷ trôi qua. Tiếng cười và nước mắt năm xưa đã tắt. Hôm nay tôi vẫn giữ pho tượng Bác trên bàn thờ nhà mình. Ngày rằm, mồng một, tôi vẫn thắp nén hương chung, ngắm Bác. Tôi ngắm, vừa như ngắm một biểu tượng của hồn thiêng non song, vừa như ngắm một hiền nhân đã chia sẻ cùng chúng tôi những vui buồn của nghề làm thầy, làm văn chương, chữ nghĩa.

 

PTH


Bách Khoa, tháng 10/2000 - Bài đã in báo văn Nghệ số 39-2009

 

***

 

THAM KHẢO:

 

Công trình tượng đài 1.400 tỷ ở Sơn La

- Tượng đài Hồ Chí Minh: Ý kiến người Sơn La

- 'Tình cảm không thể cân đong đo đếm'

Ý kiến về tượng đài 1.400 tỷ

- Tượng tiền tỷ, chất lượng chưa xứng

- Thủ tướng VN yêu cầu Sơn La báo cáo về tượng đài

 

***

LSV (s/t & g/th)


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích