Làm chủ sân bay Hòa Bình_1/4 (TM)

11/01/2018,14:16:27 | 605 | 0

Chiến trường Tây Nguyên

 

LÀM CHỦ SÂN BAY HÒA BÌNH (1)

 

Phần I. CHUẨN BỊ CHO CHIẾN DỊCH.

 

          Đầu năm 1975, Trung đoàn đặc công 198 chọn Buôn Za Wằm thuộc huyện Easúp cách thị xã Buôn Ma Thuột khoảng 20 km về phía Tây Bắc làm nơi xây dựng đại bản doanh chuẩn bị cho những trận đánh lớn. Vừa ổn định chỗ ở, các đơn vị trong Trung đoàn tiến hành gấp rút hai nhiệm vụ: vận chuyển đạn, gạo, thực phẩm, thuốc men và nghiên cứu chuẩn bị mục tiêu.

 

I

          Đại đội trưởng trinh sát Trần Tất Việt nhận được lệnh từ Trung đoàn trưởng Trần Kình chuẩn bị ba phân đội có kinh nghiệm, thông thuộc địa bàn thị xã Buôn Ma Thuột đưa cán bộ đi nghiên cứu thực địa. Phân đội 1 gồm 6 người đi cùng tiểu đoàn phó tiểu đoàn 4 Lê Mạnh Hùng và ban chỉ huy đại đội 2 đến điều nghiên kho đạn Mai Hắc Đế. Phân đội 2 có 7 người đi cùng Trung đoàn phó Bùi Minh Hiếu, tiểu đoàn trưởng tiểu  đoàn 4 Bùi Duy Biều và các ban chỉ huy đại đội 1, đại đội 3, đại đội 18 thuộc tiểu đoàn 7 đến điều nghiên sân bay thị xã Buôn Ma Thuột. Phân đội 3 có 15 chiến sĩ cùng cơ quan Tham mưu trung đoàn và các Ban chỉ huy tiểu đoàn 5, tiểu đoàn 7 đến điều nghiên sân bay chiến lược Hòa Bình.

          Đoàn nghiên cứu sân bay Hòa Bình đã đi nhiều chuyến, mỗi chuyến đi đều có nội dung cụ thể cho trận đánh. Sân bay Hòa Bình nằm trên địa thế tương đối bằng phẳng ở phía Đông Nam, cách trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột mười ki lô mét. Sân bay có chiều dài hơn 2.000 mét, rộng gần 1.000 mét. Phía Bắc là sân bay dân sự có một đường băng dài 2.000 mét, rộng 50 mét. Máy bay phản lực A37 và F5 có thể lên xuống an toàn trên đường băng này. Sát sân bay, về phía Đông Nam là căn cứ trung đoàn 53, hậu cứ trung đoàn 44 và khu chỉ huy sân bay. Đây là địa bàn hết sức lợi hại, địch có thể sử dụng sân bay Hòa Bình để đổ quân, đổ phương tiện tập trung lực lượng cơ động đi ứng cứu, chi viện các nơi khi ta tấn công hoặc phản kích đánh chiếm lại mục tiêu khi bị mất.

          Trong lần điều nghiên đầu, đoàn đã xác định những địa điểm quan trọng để ta làm bàn đạp tấn công địch. Đó là xác định nơi bố trí hỏa lực của Trung đoàn Đặc công đánh phủ đầu để lực lượng chủ yếu của ta đồng loạt xông lên tiêu diệt địch. Địa điểm thứ hai không kém phần quan trọng là xác định nơi đặt cơ sở hậu cần phục vụ chiến dịch. Qua nhiều lần kiểm tra địa bàn, dân cư đoàn quyết định đặt cơ sở hậu cần nằm cạnh con suối chảy ra hồ Ea Cuôr Kắp nằm gần buôn Ban K' don. Đây là nơi có những khu rừng hoang vu, ít có bóng người.

          Đọt điều nghiên thứ hai, thứ ba đoàn nghiên cứu thủ đoạn bố phòng, quy luật hoạt động tuần tra canh gác và nghiên cứu kỹ từng mục tiêu. Căn cứ trung đoàn 53 dài 400 mét, rộng khoảng 300 mét. Xung quanh được bao bọc bằng sáu lớp rào dây thép gai hỗn hợp, xen kẽ nhưng bãi mìn, bãi chông, bẫy nổ. Kế đến là một bờ đất cao chừng một mét rưỡi, dọc bờ đất có một tuyến lô cốt và công sự chiến đấu dày đặc. Ở bên trong là các khu chỉ huy, doanh trại các tiểu đoàn, trận địa pháo, khu hậu cần, vận tải... đều được ngăn cách bằng hàng rào cao rô. Địch có một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội công binh, một đại đội thám báo, một chi đội xe bọc thép, một trung đội pháo 105 mm và cơ quan trung đoàn bộ. Tổng số quân khoảng 600  tên sẵn sàng chiến đấu.

          Ở hậu cứ trung đoàn 44 và khu chỉ huy sân bay, địch tổ chức phòng ngự sơ sài hơn. Quanh khu đất dài ba trăm mét, rộng một trăm năm mươi mét chỉ có bốn lớp rào kẽm gai xen kẽ chông, mìn, bẫy không bờ đất, giao thông hào. Vị trí của hậu cứ và khu chỉ huy nằm ở phía trong căn cứ trung đoàn 53 về phía Tây khoảng ba trăm mét. Tại đây chúng có một đại đội công vệ, một trung đội pháo 105 mm, hậu cứ của ba tiểu đoàn bộ binh. Tổng quân số gần 400 tên.

          Sau khi thực hiện các chuyến đi nghiên cứu địa bàn, các phương án chiến đấu của hai tiểu đoàn được thông qua Ban chỉ huy Trung đoàn.

 

II

          Cuối tháng Hai, gần hai trăm chiến sĩ dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Cao Tiến Hùng và các đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 7 thực hiện chiến dịch vận chuyển lương thực, thực phẩm, thuốc men chuẩn bị cho trận đánh. Đại đội hỏa lực cũng kết hợp với lực lượng vận chuyển mang vác súng và đạn ĐKB đến địa điểm tập kết.

          Trong đêm, các chiến sĩ hậu cần đã đong gạo vào ba lô. Mỗi ba lô hai mươi ký. Chiến sĩ tải gạo phải mang theo súng AK, đủ cơ số đạn chiến đấu. Ngoài ra còn phải mang theo một ký lương khô, bi đông nước, tăng võng, xẻng cán gấp.

          Bảy giờ sáng, bộ đội bắt đầu khởi hành. Con đường từ Buôn Za Wằm  cắt rừng rậm ra đến gần Buôn Ma Thuột là quãng đường an toàn. Thỉnh thoảng bọn thám báo ngụy tung quân ra lùng sục ở khu vực Ea Pork rồi rút về hoặc có lúc chúng cho quân nằm lại mai phục ở con đường đồng bào thường hay đi làm rẫy. Để chuẩn bị cho chuyến đi, một phân đội của đại đội trinh sát liên tục bám sát địa bàn và cặp nhật tình hình về cho đơn vị. Trong đội hình hành quân vận tải, đơn vị cũng bố trí một phân đội trinh sát đi đầu đội hình.

          Đại đội trưởng Mười ba Trần Văn Mộc đi đầu đội hình của tiểu  đoàn Năm. Anh mang trên lưng ba lô gạo hai mươi ký, vai khoác khẩu AK và mang đủ cơ số đạn đi chiến đấu; lưng đeo khẩu K54, lựu đạn và chiếc xẻng dã chiến. Đối với anh, việc hành quân đường dài mang nặng hành lý trên vai đã trở thành thói quen kể từ khi anh bước vào lực lượng đặc công vào năm 1967. Lúc đó, anh là chiến sĩ mới của lực lượng bộ binh thuộc Quân khu Ba được tuyển chọn vào tiểu đoàn đặc công Ba mươi bảy. Tiểu đoàn .được thành lập vào tháng Ba năm sáu mươi bảy; sau hơn sáu tháng rèn luyện, đến tháng Mười cùng năm tiểu đoàn được lệnh hành quân vào chiến trường Tây Nguyên. Trải qua hơn sáu tháng ròng rã hành quân theo tuyến đường Trường Sơn. Trên vai mỗi chiến sĩ mang quân trang, vũ khí và lương thực, thuốc men lên đến ba mươi ký lô. Con đường hành quân của đơn vị đi từng chặng giao liên. Trên đường hành quân, anh phải nghỉ lại điều trị bệnh sốt rét lúc đi qua tỉnh Sê Kông, mấy tháng sau mới đuổi kịp đơn vị ở Gia Lai. Mặc dù trải qua những năm tháng gian khổ, bệnh tật hành hạ trên đường hành quân nhưng các anh được rèn luyện tinh thần và ý chí vượt lên mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

          Mười lăm năm nay, Mộc đã cùng nhiều đồng chí khác giáo dục, rèn luyện hàng trăm chiến sĩ có được sức khỏe dẻo dai, tinh thần vượt qua mọi khó khăn để tham gia chiến đấu. Trong chuyến vận chuyển gạo chuẩn bị cho chiến dịch lần này, đại đội phó Nguyễn Văn Nhâm đi đoạn hậu. Đi được khoảng hai tiếng đồng hồ, Nhâm vượt qua đoàn quân và đuổi kịp Mộc. Nhâm quê ở Nghệ An, được bổ sung vào đơn vị anh từ năm 1972. Nhâm là người rất vui vẻ, miệng lúc nào cũng chúm chím nụ cười. Nhâm có dáng người cao nhưng hơi gầy. Trong các đợt đơn vị hành quân xuyên rừng Nhâm thường dẫn đầu vì anh có đôi mắt tinh tường và trí nhớ tốt. Các lần anh dẫn đơn vị cắt rừng luôn đi đúng đường và về tới địa điểm. Nhâm có sức dẻo dai đến tuyệt vời. Trong một lần đơn vị hành quân đánh địch ở Ea Đrăng thuộc huyện Ea H' Leo. Đánh xong, đơn vị cắt rừng rút về hậu cứ nhưng bị lạc trong rừng. Nhâm đã nhịn đói, nhịn khát một ngày cắt rừng theo phương vị đến một bản người dân tộc xin cho đơn vị tá túc một đêm rồi sáng hôm sau dân bản đã cử người dẫn đến vị trở về an toàn.

          Khi Nhâm từ cuối đội hình vượt lên sát mình, Mộc quay lại hỏi: "Cậu đã đến rồi à, anh em trong đại đội đều theo kịp cả chứ?". Nhâm nhanh nhảu: "Báo cáo anh, bốn mươi sáu cán bộ chiến sĩ đại đội ta đang trong đội hình hành quân, không có ai bị tụt hậu". "Xê Mười bảy có bám sát đội hình của ta không?". "Xê Mười bảy theo sát đội hình của đơn vị ta anh ạ.".  "Cậu bứt phá như thế có mỏi chân lắm không?" Mộc hỏi chân tình. "Mấy năm nay đơn vị mình luôn hành quân xa, mang vác nặng nên hành quân gần hai chục cây số chỉ mới làm trơn đôi chân thôi anh ạ". Như chợt nhớ ra điều gì, Mộc bước chậm lại và truyền lệnh ra sau: "Nghỉ giải lao!". Nói xong, anh dấn bước đến gốc cây dầu, đặt ba lô xuống đất, xoãi hai chân và dựa lưng vào gốc dầu. Nhâm cũng bước đến và ngồi xuống phía Đông của gốc cây. Cơn gió từ hướng Đông Nam luồn rừng thổi đến từng đợt làm mát lưng các chiến sĩ trong đoàn quân vận tải.  Mộc quay qua hỏi Nhâm: "Bấy lâu cậu có nhận được thư nhà không?"  "Dạ, tuần trước tôi có nhận được thư vợ gửi vào. Cô ấy báo tin đứa con gái chúng tôi đã đi học mẫu giáo và rất ngoan anh ạ". "Cậu sướng thật đấy! Đi đánh giặc mà kịp lấy vợ, sinh con. Tớ đã gần ba chục tuổi đầu , bố mẹ đã dạm sẵn cho một cô gần quê mà chưa có dịp để về...". "Số phận mỗi người khác nhau anh ạ- Nhâm nói như an ủi- Tôi cưới vợ nhân dịp ra Bắc chữa vết thương năm 1971. Đến nay con gái lên ba tuổi mà tôi đã biết mặt đâu". "Tớ hy vọng sau chiến dịch này tụi mình được về thăm bố mẹ và bà con ở quê, nhân dịp cưới cô gái mà bố mẹ tớ đã dạm hỏi".  Nhâm gật gù: "Tôi cũng mong như vậy để nhìn mặt con và ẵm bé vào lòng. Đó có lẽ là giây phút hạnh phúc nhất đời anh nhỉ?". Mười lăm phút nghỉ mệt  trôi qua, Mộc khoác ba lô lên vai, đứng dậy. Anh quay qua Nhâm lúc đó cũng vừa đứng lên: "Cậu đi chậm lại tranh thủ truyền đạt tinh thần cho anh em biết, tối nay chúng ta sẽ giao gạo ở tiền trạm rồi quay về ngay trong đêm. Ngày mốt chúng ta sẽ đi chuyến thứ hai...".

          Trao đổi xong, Mộc xốc ba lô xăm xăm dẫn đầu đoàn quân, Nhâm nán lại đi cùng đại đội và tranh thủ truyền đạt cho các chiến sĩ ý kiến của đại đội trưởng.

*

*  *

           Hành quân sau lực lượng tải gạo là  đại đội hỏa lực. Đại đội mang toàn bộ mười hai khẩu ĐKB và hai trăm viên đạn phục vụ cho chiến dịch. Súng ĐKB của đơn vị được trang bị là loại sản xuất tại Trung Quốc có trọng lượng chưa đầy bốn mươi ký. Các chiến sĩ khỏe cho súng vào vải bọc rồi vác lên vai.. Đại đội trưởng Lữ Cao Cát tình nguyện vác một bao đi đầu. Trước đây, Cát đã nghiên cứu cách mang khẩu súng sau lưng như mang ba lô, tuy nhiên cách mang như vậy khó đi vì nòng súng có thể vướng vào những cành cây thấp. Phía sau các chiến sĩ vác súng bước rầm rập theo sau. Nối gót là các chiến sĩ gùi đạn. Mỗi gùi tám viên đạn đã tháo bỏ hộp gỗ của nhà sản xuất. Đại đội trưởng Cát là người chắc khỏe. Anh nặng hơn bảy mươi ký và là người thường xuyên rèn luyện sức khỏe. Anh luôn nghiên cứu, phát triển các thế võ đã được học thành những thế đánh đẹp, biến hóa khó lường. Chính sự rèn luyện đã giúp anh bước đi vững vàng trên con đường mấp mô xuyên giữa những cánh rừng già.

          Đi được khoảng hơn một tiếng đồng hồ, đội ngũ phía sau Cát có vẻ chuệch choạc. Anh đi chậm lại nắm tình hình mới biết mười một cán bộ chiến sĩ vác súng đã bắt đầu thấy mỏi vai nên đi chậm lại để chuyển sang kiểu mang. Cát cho đại đội tạm nghỉ, anh yêu cầu các chiến sĩ có sức khỏe tình nguyện gùi thêm bộ chân súng tám ký lô từ các chiến sĩ vác súng. Hơn chục cánh tay tình nguyện giơ lên. Các chiến sĩ vác súng nhanh chóng tháo giá súng chuyển qua cho các chiến sĩ gùi đạn. Các gùi tình nguyện mang thêm giá súng được phép chuyển bớt cho gùi khác một viên đạn,  như vậy những gùi mang thêm giá súng chỉ nặng hơn gùi đạn khoảng bốn ký. Gần mười phút sau, đơn vị tiếp tục lên đường. Gần một giờ sau, các anh đuổi kịp đội hình trung đoàn khi c1c đơn vị đang nghỉ giải lao trong khu rừng già Eatar.

          Trưa, đơn vị nghỉ lại trong rừng ăn bữa trưa bằng lương khô và uống nước sôi để nguội trong bi đông mang theo. Trời sẩm tối đoàn đi đến những vườn cà phê thuộc xã Ea pok. Cuối rẫy cà phê là đường quốc lộ 14 vắt ngang, bên kia là xã Ea tu bạt ngàn cà phê. Dịp này, cà phê thu hoạch xong không có người lai vãng ngoài rẫy. Khi đoàn vận tải vừa đến rẫy, các chiến sĩ trinh sát đã có mặt để báo cáo tình hình địa bàn cho Mộc. Đúng lúc đó, chiếc L19 bay thấp dọc theo đường Mười bốn, vừa bay nó vừa đảo cánh nghiêng ngó. Đoàn quân vận tải giấu mình trong vườn cà phệ xanh tốt.

          Trung đội trưởng trinh sát Lương Công Trường đến báo cáo tình hình với đại đội trưởng Trần Văn Mộc, trưởng đoàn vận tải của Trung đoàn. Trường báo cáo tình hình hoạt động của địch trên tuyến đường Mười bốn tại khu vực Ea pok. Thời gian trước, bọn địch thường dùng máy bay trực thăng tuần tiễu dọc đường Mười bốn, ban đêm chúng chiêu đèn pha rà quét hai bên đường. Thấy có gì nghi vấn là chúng treo máy bay tìm kiếm, thậm chí cho cả lính xuống đất sục sạo. Nhưng trong thời gian gần đây, địch ít dùng trực thăng mà cho bọn thám báo đi tuần tiễu rồi luồn vào nơi nghi vấn phục lại suốt đêm. Mấy ngày vừa qua, địch không tuần tiễu bằng máy bay mà cũng không cho thám báo đi nằm phục ở những nơi nghi vấn. Phân đội trinh sát sẽ trực chiến ở cách điểm vượt lộ mỗi bên năm trăm trăm mét, lúc cần thiết phân đội sẽ nổ súng báo hiệu hoặc cấp bách sẽ tấn công cầm chân giặc để bộ đội vận chuyển tránh vào rừng.

          Đúng bảy giờ, đoàn quân vận tải gấp rút vượt qua lộ Mười bốn để sang địa phận xã Ea tu. Phải mất hơn một giờ, cả đoàn mới qua được địa điểm gian nan hiểm trở. Trong thời gian đoàn vận tải vượt qua quốc lộ, phân đội trinh sát đã làm tốt nhiệm vụ cảnh giới. Ba lần, các anh phát hiện tiếng máy bay ầm ì từ phía Sài Gòn bay lên và định phát tín hiệu cho đoàn ngưng qua đường nhưng sau đó phân đội phát hiện đó là máy bay vận tải chuyển hàng từ sân bay Tân Sơn Nhất lên sân bay Hòa Bình nên chỉ yêu cầu đoàn tạm ngưng vượt đường khi chúng bay gần địa điểm. Ngoài ra, các hoạt động khác của địch đều im ắng.

          Mười một giờ đêm, đoàn quân vận tải đã chuyển hàng đến các kho được các tổ tiền trạm làm sẵn trong rừng. Mũi dẫn đầu của Trần Văn Mộc đến điểm vượt qua đường Mười bốn lúc mười hai giờ đêm..

          Trong liên tiếp ba đêm, đoàn quân vận chuyển của trung đoàn đã tải đầy đủ số gạo, thuốc men chuẩn bị cho các đơn vị tham gia chiến đấu sử dụng trong vòng hai mươi ngày. Đại đội hỏa lực đã vận chuyển súng  ĐKB và hàng trăm quả đạn phục vụ cho trận đánh. Chiến dịch vận chuyển vũ khí, hậu cần, y tế phục vụ cho trận chiến đấu dự kiến kéo dài hai mươi ngày đã kết thúc thắng lợi vào cuối tháng hai năm 1975.

 

... (còn nữa)

LSV (g/th) 

***

 

Xem lại các bài khác tại đây: Bài 1 ; Bài 2 ; Bài 3 Bài 4


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích