Tìm bạn (PXT)

22/07/2016,17:54:13 | 997 | 0

Nghĩa tình đồng đội

 

TÌM BẠN

Bài và ảnh: Phan Xuân Thi, CCB E207,QK8

 

 

 Sau khi dự lễ cầu siêu ở Khu tưởng niệm liệt sỹ Trung đoàn 207 (Quân khu 8) ở Long An về tôi cứ trằn trọc suốt đêm không ngủ được, sáng hôm sau tôi nhận được một cú điện thoại của đồng chí Trương Ngọc Đản - nguyên là lính thông tin Trung đoàn 207 - hiện đang ở Tây Nguyên.

Tôi nhớ lại trận đánh đồn Bà Vững đêm giao thừa năm 1974 ở Huyện Kiến Văn, Tỉnh Kiến Phong cũ. Đản là lính thông tin Trung đoàn đi theo đội hình cùa Đại đội trinh sát (C21) do tôi làm Chính trị viên, sở chỉ huy của tôi bị một quả pháo 105 ly bắn sập một góc hầm nhưng tôi và Đản đều vô sự. Đản hồ hởi báo cho tôi một tin vui là Anh ruột của Đản, nguyên là lính sinh viên Đại học xây dựng K12 đã học xong năm thứ tư, nhập ngũ 8/1970 và biết rất rõ Phan Xuân Thi vì lúc mới nhập ngũ đã ở chung tiểu đội với tôi, tôi liền nói ngay: Anh Trương Đức Truật phải không? Đản hỏi lại sao anh biết hay vậy? Có gì khó đâu vì Đản khoe với tôi là có người anh ruột đã ở chung với tôi nên tôi nhớ ra ngay Anh Truật vì anh cùng họ với Đản. Sau khi gọi điện nói chuyện với anh Truật trong niềm vui khôn tả vì hơn 40 mươi năm từ thuở binh nhì ấy, mỗi người đi mỗi ngả, vậy mà bây giờ tự nhiên tìm được nhau.

Tôi cứ miên man nghĩ về các liệt sỹ ở Đá Biên (vì có rất nhiều liệt sỹ hy sinh ở đây là sinh viên ĐHXD mà) … đã chỉ lối đưa đường cho chúng tôi gặp nhau chăng? Ngoài anh Truật ra, tôi còn biết thêm 3 người bạn đồng ngũ nữa là các anh: Trần Độ, Trần Hải Vũ, Phạm Xuân Thiệu, các anh đều là sinh viên K13 Đại học Xây dựng. Đặc biệt anh Phạm Xuân Thiệu là người đại đội trưởng C7 đã cắm cờ trên Dinh Tỉnh Trưởng Phước Long ngày 5/1/1975.

 

Ký ức thuở binh nhì:

 

Tháng 8/1970 lúc mới vào quân ngũ chúng tôi ở chung với nhau một Tiểu đội trong Trung đội 2, Đại đội 1, Tiểu đoàn 466, Trung đoàn 568, Quân khu Tả Ngạn. Tiểu đoàn này có 4 trường đại học chia đều cho 4 đại đội, mỗi đại đội có 150 người. Riêng lính Đại học xây dựng có tới hơn 100 người. Sau khi huấn luyện một thời gian, Tiểu đoàn tăng cường cho các đơn vị bổ sung vào chiến trường nhưng có 30 người được giữ lại không biết vì lý do gì? Chúng tôi buồn lắm, phần thì nhớ bạn vì “chia đàn sẻ nghé” phần thì buồn không được cùng đồng đội ra chiến trường. Trong số đi B đợt này có Anh Phạm Xuân Thiệu.

Trong số 30 người ấy có tôi, anh Truật, anh Độ và anh Vũ. Chỉ ít ngày sau chúng tôi được Chính trị viên Tiểu đoàn thông báo là các đồng chí đã được cán bộ đại đội theo dõi kiểm tra trình độ năng lực nên giữ lại điều về trường Hạ sỹ quan đào tạo cán bộ tiểu đội. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm và lại hăng hái bước vào nhiệm vụ mới .

Trường Hạ sỹ quan đóng tại Mai Siu, Lục Nam, Hà Bắc. Tiểu đội tôi chỉ còn lại 3 anh là Trương Đức Truật, Trần Độ, Trần Hải Vũ là sinh viên Đại học xây dựng, số còn lại là sinh viên của các trường Tổng hợp, Thủy Lợi và Giao thông.

Có một kỷ niệm làm chúng tôi không bao giờ quên được là những đêm hành quân đeo đá nặng 30-40kg vừa nặng, vừa mệt, vừa đói, đói lắm vì chúng tôi đang tuổi 20 (tuổi ăn tuổi ngủ) hồi đó do kinh tế khó khăn nên chúng tôi thường ăn độn ngô, khoai. Có một đêm hành quân qua một rẫy sắn, trong lúc nghỉ giải lao anh Trần Độ kể một câu chuyện vui: Ở làng anh có một gia đình nọ hiếm con nên khi sinh được một bé trai cả họ liền bu lại họp bàn cách đặt tên sao cho hợp, rất nhiều ý kiến đưa ra nhưng cuối cùng ông trưởng họ quyết định đặt tên bé là ỈA. Cụ giải thích đặt tên xấu như vậy cho dễ nuôi.

Quả đúng, cậu bé lớn rất nhanh. Khi trong họ có đám giỗ thấy cậu bé ngồi mâm dưới các cụ trong làng liền vội chạy đến kính cẩn:

- Mời CỤ ỈA  lên mâm trên (tuy còn nhỏ tuổi nhưng vai vế của ỈA lớn) nên được gọi là cụ và phải ngồi mâm trên. Mọi người nghe vậy cười ồ lên làm cho ỈA luýnh quýnh té nhào ra nên sau này chúng tôi đặt cho anh Độ biệt danh là CỤ TÉ.

Kể xong câu chuyện anh em bàn tán xôn xao khen CỤ TÉ nói chuyện có duyên rồi hành quân tiếp về doanh trại, khi tiểu đội chuẩn bị đi ngủ tôi không thấy anh Độ đâu liền hỏi nhỏ Anh Truật: Cụ Té đâu rồi? , anh Truật nói khẽ:

- CỤ TÉ đang “làm nhiệm vụ đặc biệt”. À thì ra khi ngồi nghỉ bên rẫy sắn CỤ TÉ đã lẻn vào rẫy nhổ trộm sắn, cụ bỏ hết đá trong sọt ra, bỏ đầy một sọt toàn sắn mang về và đang lột vỏ dưới suối. Lệnh bí mật được truyền đi khắp Tiểu đội, ai nấy im phăng phắc sợ Trung đội trưởng Hào xuống kiểm tra phát hiện được thì không biết ăn nói thế nào. (Trung đội trưởng Hào hay kiểm tra đột xuất)

Đến phiên gác lúc 3g sáng tôi được phân công xuống suối luộc sắn, anh Trần Hải Vũ phải canh chừng và đúng 4g30 phút gọi cả Tiểu đội dậy ăn thật nhanh rồi chui vào màn nằm im chờ báo thức dậy tập thể dục như không có chuyện gì xẩy ra, lúc tập thể dục xong CỤ TÉ còn nói:

- Hôm nay tiểu đội ta hô to thế, mọi người nhìn nhau cười ý nhị. Sọt mì của anh Độ còn nhiều lắm chúng tôi phải đào “hầm bí mật” để cất giấu. Biết làm như vậy là sai nhưng trong hoàn cảnh ấy anh em trong tiểu đội ai cũng thương anh Độ nên cho qua không ai báo cáo lên cấp trên, Tôi là tổ trưởng tổ 3 người nên nhắc nhẹ anh Độ: Thôi nhé, anh nhìn tôi thông cảm và từ đó chúng tôi thương nhau như anh em ruột.

Ba tháng sau chúng tôi chia tay mỗi người về một đơn vị, Tôi và Vũ về Trường Quân chính Quân khu Tả Ngạn học tiếp khóa đào tạo cán bộ trung đội, năm tháng sau về lại đơn vị nhận tân binh, huấn luyện, Vũ đi B tháng 10/1971 vào Cục hậu cần (Bộ tư lệnh miền), Tôi về làm giáo viên chiến thuật cho Trung đoàn được 3 tháng rồi sau đó xuống Tiểu đoàn 469 làm cán bộ Trung đội, rồi lên tham mưu trưởng Tiểu đoàn 469, lúc đi B (phiên hiệu là Đoàn 2053) tháng 12/1971 vào B2. Cụ Té về đơn vị mới nhận quân, huấn luyện rồi đi vào Tây Nguyên. Anh Truật đến tháng 6/71 mới về Trường quân chính học và sau đó tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị (hiện nay anh Truật, anh Độ đã nghỉ hưu đang ở Thái Bình, riêng anh Vũ ra quân năm 1976 về thi vào Ngân hàng và đang công tác tại Thái Bình. Còn Anh Phạm Xuân Thiệu đi B ngay từ đợt đầu, sau này mới biết anh vào miền Đông Nam Bộ trong đội hình Quân đoàn 4, anh là Đại đội trưởng Đại đội 7 đã cắm cờ trên Dinh Tỉnh trưởng Phước Long ngày 5/1/1975 rồi đánh Xuân Lộc và tham gia giải phóng Sài Gòn.

Khi biết tin anh là người đã cắm cờ trên nóc nhà Dinh Tỉnh trưởng Phước Long ngày 5/1/1975, tôi đã quyết định đi Phước Long tìm anh.

 

 

Đường lên Phước Long

 

Phước Long - ngày ấy…bây giờ

 

Thị xã Phước Long cách Sài Gòn 130km. Ngày xưa là chi khu quân sự kiên cố, một cánh cửa sắt, một tấm lá chắn án ngữ phía Bắc Sài gòn. Bao quanh Thị xã là dòng sông Bé, phía Bắc Thị xã là đỉnh núi Bà Rá cao hơn 1000m là trung tâm truyền tin, một viễn vọng đài, con mắt của Chi khu Phước Long. Phía Tây Nam là đồi Sai giang và thị trấn Phước Bình có căn cứ quân sự và sân bay được bảo vệ rất chặt.

 

     

 

Núi Bà Rá                                                Sông Bé oai hùng

 

Để tiêu diệt Chi khu quân sự này Bộ chỉ huy chiến dịch đã tăng cường cho Quân đoàn 4 một Tiểu đoàn pháo 130 ly, một Tiểu đoàn tăng thiết giáp 20 chiếc (đây là lần đầu tiên ta có xe tăng và pháo binh hạng nặng ở miền Đông Nam Bộ) .

 

     

 

Trong vòng 6 ngày từ 31/12/1974 đến ngày 05/1/1975, Quân đoàn 4 và các đơn vị phối thuộc đã tiêu diệt toàn bộ quân địch, giải phóng hoàn toàn Thị xã Phước Long.

 

Đồng chí Phạm Xuân Thiệu, một sinh viên K13 trường Đại học xây dựng Hà Nội, một Đại đội trưởng mưu trí dũng cảm đã chỉ huy Đại đội 7 đơn vị độc lập luồn sâu vào bên trong Thị xã chiến đấu kiên cường và vinh dự cắm cờ lên nóc nhà Tỉnh trưởng Phước Long. Theo thông tin từ người quản lý nhà truyền thống thì hiện anh đã nghỉ hưu tại TP.HCM.

 

     

 

Phước Long ngày nay đang từng giờ thay da đổi thịt, nhà cửa san sát. Dọc hai bên đường là những lô cao su bạt ngàn đang mùa thay lá. Đường lên đỉnh Bà Rá đã có cáp treo, một khu du lịch sinh thái đón khách tấp nập. Trung tâm Thị xã là một tượng đài chiến thắng, phía sau là nhà truyền thống, dòng Sông Bé oai hùng đã được ngăn dòng chảy làm nên Thủy điện Thác Mơ.

 

PHAN XUÂN THI (tháng Giêng 2013)

 

LSV (g/th)


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích