Hồi ký chiến trường_36/40 (VTK)

31/05/2016,15:08:52 | 2627 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG – BÀI 36

VŨ TRUNG KIÊN – CCB E 207 – E156

 

 

16h, ngày 6/1/1979, xe của cơ quan trung đoàn bộ lần lượt tiến vào thị xã Kom Pong Xư Pư. Khi còn cách khoảng 1km thì sở chỉ huy trung đoàn dừng chân. Tiểu đoàn pháo mặt đất cũng bám sau lưng trung đoàn bộ. Các tiểu đoàn bộ binh và đơn vị thiết giáp đã làm chủ hoàn toàn thị xã, được lệnh truy quét quân địch bỏ chạy. Bộ phận trinh sát tiếp tục bám dấu vết quân đich để giúp sở chỉ huy trung đoàn ra những mệnh lệnh kịp thời…

            16h30, tôi lại theo anh Tám Tính (trung đoàn phó) cùng một số đồng chí bên ban tham mưu “mò” đến kho đạn mới nổ của quân Pôn Pốt xem nó thực hư như thế nào, may ra có thể tìm kiếm thêm được chút vũ khí cho bộ đội . Khi còn cách vị trí kho đạn khoảng 100m thì chúng tôi dừng lại. Trước mặt chúng tôi là một khoảng đất rộng mấy hecta đã bị san phẳng. Hệ thống kho tàng được xây bằng bê tông cốt thép nát vụn. Gạch đá nằm chồng chất lên nhau, lòi cả những cốt thép do sức công phá của hàng ngàn tấn thuốc nổ. Trên mặt đất nằm la liệt vỏ đạn đủ các loại đạn nhọn: AK, đại liên, 12ly8… Xen lẫn trong đống vỏ đạn đó còn có nhiều quả đạn cối 61, 82, B40, B41… bị cháy xám xịt và rất may nó không bị “tan tành xác pháo” do chưa được lắp ngòi nổ.

            Nhìn kho vũ khí của địch mà chúng tôi thầm tiếc. Đáng lẽ ra giờ này đã trở thành kho vũ khí của ta, thành trung tâm hậu cần cung cấp đạn dược cho những cánh quân…

            Chẳng còn tìm đâu ra một chút hy vọng… , chúng tôi tiu nghỉu trở về vị trí đóng quân. Lúc này trời cũng đã nhá nhem tối, nhưng nhờ có các đồng chí trinh sát và vệ binh đi hộ tống dẫn đường nên chỉ một thời gian rất ngắn, chúng tôi lại có mặt tại sở chỉ huy trung đoàn. Anh Tám Tính báo cáo tóm tắt chuyến thị sát cho ban chỉ huy  rồi cùng đồng chí trung đoàn trưởng, chính ủy chăm chú … vào tấm bản đồ quân sự…

            Chỉ ít phút sau, tôi đã có mặt tại ban chính trị nơi dừng chân tạm thời cách sở chỉ huy trung đoàn khoảng trên 100m. Có vài nhà dân nằm cập bên con đường đất. Thấy anh em trong ban đang túm tụm lại trước sân một nhà dân. Được đ/c Cúc (trợ lý địch vận) báo lại : “Vệ binh trung đoàn mới giao 3 tên tù binh cho bộ phận địch vận quản lý và khai thác”. Đây là 3 tên tù binh bắt được đầu tiên kể từ khi mở đợt tổng phản công qua chiến trường CPC do đơn vị trinh sát tóm được khi bọn này đang tìm cách tháo chạy khỏi thị xã Kom Pong Xư Pư hồi chiều. Chấp hành tốt chính sách tù hàng binh, bộ phận trinh sát đã dẫn ngay về giao nộp cho ban tham mưu, sau đó chúng được chuyển sang cơ quan địch vận. Có mỗi việc khai thác tù binh người CPC mà từ chiều đến giờ, từ trinh sát, vệ binh, tham mưu, địch vận vẫn chưa thể thực hiện được. Vì lính ta thì hỏi bằng tiếng Việt… mấy tên tù binh trả lời bằng tiếng Miên…nên mạnh ai nấy nói…mạnh ai nấy nghe… Ta cứ như “vịt nghe sấm”…chẳng hiểu gì. Cũng bởi thời kỳ này chưa có phiên dịch. Vậy là có dịp cho tôi được “trổ tài”.

            Do tôi có ít kiến thức, nghe nói được tiếng CPC từ thời kỳ đánh bọn Lon Non 1970-1971 nên lập tức được giao nhiệm vụ đặc biệt: Cán bộ hỏi cung…!

           Hình như cả trung đoàn, tôi là người duy nhất, lần này là lần thứ hai thành quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường CPC.

           Sau gần 30 phút  hỏi …đáp…, tôi đã giúp bộ phận địch vận cơ bản biết được một số chi tiết về tình hình ở đây (hỏi theo kiểu do mình chủ động, câu nào nhớ thì nói, không biết thì thôi. Cụ thể chúng tôi đã biết được tên, tuổi, quê quán, đơn vị, hướng bọn địch rút chạy…). Cái chiêu cuối cùng của tôi là: “Bọn mày đã ăn uống gì chưa?”. Đây là những câu, từ tiếng CPC mà sau gần 9 năm (1970-1979) và cho đến tận bây giờ tôi vẫn không quên

       Thời gian làm việc kết thúc, anh nuôi cho 3 tên tù binh ăn cơm rồi chúng tôi quyết định phóng thích ngay, hướng dẫn cho chúng tự tìm về quê cũ sinh sống, làm ăn. Ba tên tù binh mừng rơn, hai tay chắp lại “xá xá” rồi từ biệt bọn tôi. Tất cả chúng tôi đều chung quan điểm: “giữ chúng mày ở lại chỉ tổ thêm vướng bận…”

            Tại Sở chỉ huy trung đoàn, đêm nay, mùng 6/1 vẫn không ai có thể chợp mắt bởi những tin tức chiến thắng của các đơn vị bạn, của các cánh quân… thông qua mạng vô tuyến điện từ sư đoàn và quân khu dồn dập chuyển xuống. Các cụm máy 2W và 15W vẫn thực hiện hết công suất để nhận mệnh lệnh của bộ chỉ huy chiến dịch. 3 tiểu đoàn bộ binh được lệnh giãn đội hình quanh thị xã Kom Pong Xư Pư lập tuyến phòng thủ đề phòng quân địch quay lại phản kích. Trận địa pháo và đơn vị xe thiết giáp cũng được các đơn vị trực thuộc đóng quân xung quanh, bảo vệ rất nghiêm ngặt.

            Khoảng 2h ngày 7/1/1979, tôi và anh Nguyễn Lộc Nhu được đc liên lạc mời ăn cháo gà. Trong chiếc thau nhôm đựng khoảng 4-5 bát cháo mà các đc phục vụ đã dày công chuẩn bị…Anh em  trong ban đã ăn trước. Số còn lại là để phần cho 2 “thằng” tôi, bởi chúng tôi cứ lúc thì náo nức, lúc thì căng thẳng, đi đi lại lại tại sở chỉ huy trung đoàn chưa ăn uống gì…Đang đói bụng gặp được cháo là tôi mừng húm… Tính múc ra bát “khợp” ngay, ai ngờ bị anh Nguyễn Lộc Nhu ngăn lại… Anh bảo đc liên lạc đến mời đc anh nuôi… Ngồi cạnh thau cháo gà, đc anh nuôi và đc liên lạc bị anh  Nhu chất vấn: “Gà ở đâu ra? Đ/c nào bắt gà? Ai chủ trương cho làm thịt?…”

            Đ/c anh nuôi ú ớ trả lời:

            - Em không biết nguồn gốc con gà, chính đ/c QT (liên lạc) giao cho em con gà trống nặng độ 3 ký bảo em làm thịt nấu cháo. Em tưởng đây là lệnh của các anh nên em phải chấp hành…

            Tới phiên đc liên lạc cậu ta khai thật:

            - Gà này do bộ phận trinh sát bắt được cùng lúc với mấy tên tù binh đem biếu ban ta, em chắc chắn là của lính Pôn Pốt nên em đã thay mặt các anh bảo anh nuôi làm thịt nấu cháo …Anh Nguyễn Lộc Nhu tỏ vẻ không hài lòng…mặt vẫn thừ ra, đăm chiêu suy nghĩ…Tôi thì đã rõ “nguồn gốc ngọn ngành” nên chẳng còn ngại gì nữa, nhanh tay múc cháo từ trong thau ra bát, mới làm cái “xoạt” 2 -3 “phát” đã gần hết nửa bát cháo (cũng may là cháo đã nguội, chứ không thì bỏng mồm, bỏng lưỡi là cái chắc). Thấy kiểu cách ăn uống “như chết đói” của tôi, anh Nhu cũng “tỉnh ngộ” vội vàng múc cháo ăn… Đc liên lạc và đc anh nuôi nhìn thấy cái cảnh 2 “thằng” tôi húp cháo ngon lành, vui quá…tít mắt cười… Thấy những nụ cười thoải mái trên gương mặt của các đc phục vụ, tôi chợt thấy sao mà đáng yêu, đáng quý  đến thế, tôi thầm cảm ơn tất cả mọi người…

            Ăn cháo xong tôi và anh Ba Nhu lại vội vã đến sở chỉ huy trung đoàn để nắm bắt tình hình… Anh Út Đậu cung cấp cho chúng tôi một số thông tin… rồi bảo chúng tôi cứ về nghỉ, khi cần anh cho người gọi.

            Lúc này là 3h sáng, tôi và anh Nhu  trở về ban chính trị. Đoạn đường không xa nên đi bộ chỉ mất vài phút. Hai chúng tôi vội đến chỗ để balo tính lấy võng ra giăng…Balo của tôi và anh Nhu để sát nhau ngay gốc me chua. Cách khoảng 7m là đống balo của các đc phục vụ (quản lý, y tá, anh nuôi, liên lạc…). Vừa chạm vào chiếc balo thì nghe tiếng sột soạt bên dưới. Linh tính…làm tôi nổi da gà…Tôi lùi ra xa  khoảng 2m. Anh Nhu chẳng hiểu gì, định nhào vào chỗ đặt balo, tôi vội ngăn anh lại. Trời tối mờ nên chúng tôi không thể đoán được gì. Vội gỡ chiếc đèn pin màu bạc luôn mang theo bên mình ( thời gian trước 30/4/1975, tôi có chiếc đèn nghéo do Mỹ sản xuất, tôi đã tặng lại cho một người bạn ở quê nhà). Bật công tắc lên, ánh sáng rọi thẳng vào 2 chiếc balo, chúng tôi nhìn rất rõ cái đuôi con rắn cạp nong ló ra ngoài. Tôi hết hồn… Hồi nãy mình không lanh trí thì bị nó cắn rồi chứ chẳng chơi. Trong lúc đang viết bài này tôi chợt nhớ đến cách đây vài tháng, đọc trên báo có một đc phó công an xã bị con rắn này cắn (con rắn có màu khúc đen, khúc vàng còn gọi là rắn Mai Gầm hay rắn Cạp Nong) nọc của nó rất độc, đã giết chết đc phó công an xã trong vòng 1 tiếng đồng hồ, giờ ngồi nghĩ lại vẫn thấy tim đập chân run.

            Khi đã phát hiện ra con rắn, anh Nhu tiến tới, bình tĩnh nắm đuôi con rắn lôi ra… Con rắn chưa kịp cong người đã bị anh quay mấy vòng đập đầu vào gốc cây me. Ném con rắn xuống đất, nó đã nằm im không còn động đậy. Tôi thật phục cách đập chết rắn của anh , phải thật mạo hiểm và can đảm mới dám làm kiểu này. Nếu không có anh, chắc chắn tôi đã la toáng lên để nhờ anh em đồng đội tiếp sức và điều đầu tiên là đi tìm khúc cây dài ít nhất 2m làm “vũ khí” để chiến đấu với con rắn. Nhưng trong lúc này khúc cây kiếm ở đâu ra !

           8h ngày 7/1/1979, chúng tôi được lệnh lên xe tiến về thủ đô Phnompenh.( Để lại một bộ phận chốt chặn thị xã Kom Pong Xư Pư chờ cho trung đoàn 10 vào tiếp quản).

            Đoàn xe lại đủ các thành phần (thiết giáp, vận tải chở quân, xe kéo pháo…) ầm ầm di chuyển.  Sáng hôm nay trời se lạnh, trong veo không một gợn mây. Trên thông báo các mũi tiến quân của ta giờ này cũng đang tiến vào hợp điểm nơi cơ quan đầu não trung ương của bọn diệt chủng, nơi trung tâm hành chính kinh tế văn hóa… bao đời nay của đất nước Ăng co chùa tháp mà bọn lãnh đạo cầm quyền tàn ác và man rợ nhất trong lịch sử loài người đang chiếm ngự… Trên nóc mỗi chiếc xe lúc này đã được cắm cờ đỏ sao vàng (đại diện cho quân tình nguyện VN) và cờ đỏ 5 tháp (đại diện cho quân đội Mặt trận cứu nước CPC)  tung bay phần phật.

            Quốc lộ số 4 từ thị xã Kom Pong Xư Pư đến thủ đô Phnom Pênh khoảng 50km, mặt đường trải nhựa rộng, tương đối bằng phẳng, hai bên là những cánh đồng bạt ngàn xen lẫn phum sóc và cây thốt nốt. Xe vẫn hành tiến với tốc độ trung bình, ruộng đồng phum sóc cứ lùi lại sau lưng. Khoảng 10h sáng thì trước mặt chúng tôi đã hiện ra những khu nhà cao tầng, báo hiệu đoàn xe của chúng tôi bắt đầu “chạm vào”thủ đô Phnom Pênh. Trên trời nhiều tốp máy bay của không quân ta cứ bay qua ,bay lại để sẵn sàng chi viện hỏa lực cho các mũi tiến quân  khi gặp địch kháng cự và khống chế sân bay của bọn Pôn Pốt đã được Trung Quốc đầu tư trang bị để chống lại nhân dân CPC và gây tội ác với nhân dân VN.

 

 

10h30, xe chúng tôi đã chính thức vào thành phố, bên trái đường là những ngôi nhà cao tầng, bên phải cách độ vài km là sân bay Pô Chen Tông, lúc này đã được các đơn vị bạn của ta vào chiếm giữ.

            12h, chúng tôi tiếp quản khu cố vấn Trung Quốc nằm ven  sân bay . Tôi leo lên một dãy nhà sàn bằng gỗ được xây dựng rất hiện đại, có từng căn phòng riêng biệt đầy đủ các tiện nghi, dưới sàn nhà được trải thảm, có cả những bình nấu nước bằng điện, nhiều chiếc bình nước vẫn còn nóng hổi, chứng tỏ bọn cố vấn mới bỏ chạy cách đây không lâu.

            14h, xe của chúng tôi lại tiếp tục “diễu hành” trên hầu hết các đường chính trong nội ô thành phố. Thủ đô Phnom Pênh được kiến thiết vào thời kỳ Xihanuc còn trị vì nên rất đẹp và trang nhã, nhà cửa không cao lắm, không có những ngôi nhà chọc trời như ở Sài Gòn và cũng không có những khu nhà ổ chuột như ở một số thành phố khác… Kiểu kiến trúc ở đây hầu hết theo kiểu người Pháp “nhà cao, cửa rộng”, hai bên vỉa hè rộng nên rất thuận tiện cho người đi bộ.

            Chúng tôi “long nhong”  trong thành phố gần 3 tiếng đồng hồ vậy mà chỉ mới gặp được 2 người dân, thành phố vắng vẻ, xơ xác. Hình như những người dân gốc ở đây đã bị di dời từ năm 1975, số khác bị sát hại do Pôn Pốt cho là phẩn tử trí thức. Sau này khi xây dựng chính quyền bạn đã tổng kết hơn 90% đội ngũ trí thức gồm (văn, nghệ sỹ, bác sỹ, kỹ sư, giáo sư, giáo viên…) đã bị quân Pôn Pốt hành quyết, số sống sót rất ít nhờ chạy vào rừng hoặc chạy sang Việt Nam.

            17h, chúng tôi dừng chân tại một khu phố gần khu Chợ Mới. Ở đây đa số nhà chỉ cao từ 2-3 tầng, có cả 1 khu nhà cấp 4 giống như nhà kho đan xen… 19h, lính trinh sát báo về phát hiện 1 kho thuốc của địch nằm cách vị trí đóng quân khoảng 300m. Ban chỉ huy trung đoàn đã điều động bộ phận quân y đến thu chiến lợi phẩm để bổ sung cho cơ số thuốc khi cần dùng đến. Một số chiến sỹ thuộc 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần cũng  mò đến “tham quan”. Sau đó tôi được các đc cho biết :

            Phát hiện ra kho thuốc chắc chắn đã có một đơn vị nào đó đến trước… nên cả một nhà kho rộng tới hàng ngàn mét vuông chất đầy những thùng thuốc tây, thuốc tàu, dụng cụ y tế… bị khui nằm la liệt ngổn ngang… Các đc quân y  có kiến thức nên biết thuốc nào là thuốc tốt dùng để chữa trị bệnh hoặc cấp cứu cho thương binh, họ chỉ thu lượm các loại kháng sinh như Nycoxin, Peniciline…(những loại thuốc này rất đắt tiền và vào thời kỳ đó quân đội ta vẫn còn thiếu thốn). Một đ/c chiến sỹ trong ban đã tặng tôi 2 hộp thuốc bổ sâm và kể lại:

            - Bọn em vào “lục” chủ yếu để tìm thuốc bổ, đặc biệt là các hộp thuốc bổ sâm (loại hộp bằng sắt hình chữ nhật trong đó có gần chục củ Hồng Sâm to bằng ngón tay )

            Tôi dạm hỏi:

- Hộp thuốc này trên nhãn in toàn chữ Trung Quốc, bộ cậu đọc được chữ TQ hay sao?

            - Dạ hồi đi học em chỉ học tiếng Nga thôi ạ.

            - Vậy sao cậu biết nó là thuốc bổ?

            - Dạ! báo cáo thủ trưởng, em cứ nhìn thấy cái hộp nào có in hình củ sâm giống như hình người, có rễ lòng thòng thì em biết ngay nó là thuốc bổ sâm ạ.

            Tôi thầm phục trí thông minh của cậu ta và yên tâm cất 2 hộp vào đáy balo, phòng khi sức khỏe có vấn đề sẽ đem ra làm “bùa hộ mệnh”…Viết đến đây tôi lại bồi hồi nhớ lại, vào thời kỳ cuối năm 1969, đầu năm 1970, khi còn hành quân trên rừng Trường Sơn. “Loại” sỹ quan cấp úy 1 gạch - không sao (chuẩn úy) như tôi chỉ được phát 1 củ sâm khô to bằng ngón tay út. 1 gạch 3 sao (cán bộ cấp tiểu đoàn trở lên) thì được 2 củ. Lúc đó, tụi tôi quý nó hơn vàng, khi nào quá mệt mới cắt một lát thật mỏng “như tờ giấy” bỏ vào miệng…

            Như vậy lúc 17 giờ ngày 7/1/1979, thành phố Phnom Pênh đã hoàn toàn được quân tình nguyện Việt Nam giải phóng gồm cánh quân số 3 (quân khu 9) và cánh quân số 6 (Quân đoàn 4), trong đó có trung đoàn 156 sư đoàn 339. Cơ quan đầu não của bọn Pôn Pốt và bọn cố vấn Trung Quốc đã kịp tẩu thoát vào rừng, một số chạy theo đường số 5 sang biên giới Thái Lan… Cũng vì lẽ đó cuộc chiến vẫn chưa dừng lại, đồng đội của chúng tôi vẫn tiếp tục đổ máu hy sinh sau này… khi thủ đô Phnom Pênh đã sạch bóng quân thù…

 

(Còn nữa)

 

 

LSV (g/th) 

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích