Hồi ký chiến trường_34/40 (VTK)

31/05/2016,15:08:37 | 3243 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG – BÀI 34

Vũ Trung Kiên CCB E207-E156

 

 

            Sư đoàn 210 thuộc quân khu Tây Nam của quân Pôn Pốt là một sư đoàn đã từng gây hấn, xâm lược, sát hại nhân dân Việt Nam tại Ba Chúc – Tri Tôn, biên giới Việt Nam thuộc tỉnh An Giang. Sư đoàn này đồn trú tại Tà Lập, lập phòng tuyến kéo dài đến khu cửa mở gần biên giới, và đã bị trung đoàn 156 - F339 cùng các lực lượng trong quân khu 9 giáng cho một đòn chí tử ngay ngày đầu mở chiến dịch tổng phản công. Không chịu nổi trước làn hỏa lực pháo binh và không quân cùng với sức tiến công mạnh như vũ bão của ta, chúng đã tháo chạy khỏi căn cứ  bỏ lại rất nhiều xác chết…

            Tôi lại theo chân tiểu đoàn 3 nhanh chóng tiến vào căn cứ địch. Trận địa pháo 105 của chúng vẫn còn khét lẹt mùi thuốc súng và vỏ đạn nằm la liệt, văng vãi khắp nơi. Rất nhiều thùng đạn vẫn còn nguyên vẹn chưa kịp mở nắp mang nhãn hiệu “Made in China”. Cách vài trăm mét là những hố bom sâu hoắm, nhà cửa, lán trại của quân Pôn Pốt tan hoang…

            Chẳng ai bảo ai, lính ta tự động tìm kiếm đạn và vũ khí để tự bổ sung cho cơ số của mình. Nhìn thấy một đống đạn cối 82, đ/c Toán tiểu đoàn trưởng ra lệnh “chủ động trưng dụng”… Vậy là mỗi cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn bộ đ/c nào cũng có một quả đạn cối trên vai: “Chiến lợi phẩm” mà. Thấy các đồng chí trong ban chỉ huy tiểu đoàn  “vác đạn”, tôi cũng “chơi” một quả vì nghĩ rằng hành trang của mình còn nhẹ hơn rất nhiều so với các chiến sỹ.

             12h, chúng tôi được lệnh dừng chân tại một khu vực trong căn cứ của quân Pôn Pốt. Một khu nhà lán xen lẫn hầm hào bằng đất. Từ nhà hầm này sang nhà hầm kia có giao thông hào, nắp hầm được lát bằng những cây thốt nốt to bằng cây dừa trên đổ một lớp đất dày. Sau khi được bộ phận trinh sát kiểm tra kỹ càng, ban chỉ huy tiểu đoàn 3 “hạ trại”. Xung quanh là bộ phận trực thuộc và các đại đội bộ binh.

            Vì hành quân chiến đấu suốt đêm nên khi được lệnh dừng chân là chúng tôi tranh thủ tìm chỗ ngả lưng. Cũng nhờ có cái lán cột tre, lợp bằng tàu lá thốt nốt nên tôi và các đc ban chỉ huy tiểu đoàn không phải nằm đất. Võng của tôi và đc Miên (chính trị viên tiểu đoàn) nằm sát nhau, cách khoảng 2m là võng của mấy cậu liên lạc tiểu đoàn. Nhìn những khuôn mặt bơ phờ, hốc hác của cán bộ chiến sĩ… tim tôi như thắt lại. Thương đồng đội tôi quá! Bao năm rồi chiến trận không ngừng nghỉ... Rồi tôi cũng chẳng cưỡng lại được do thiếu ngủ, tôi thiếp đi từ lúc nào…

            Khoảng 15h chúng tôi được anh nuôi đánh thức. Trong lúc chúng tôi ngủ, các đ/c nuôi quân đã đào bếp vo gạo… Bữa cơm dã chiến được dọn ngay dưới nền đất. Cũng chỉ có ít thịt heo kho mặn mang từ Việt Nam sang và nồi canh “hầm bà lằng” đủ các loại rau do anh nuôi tự kiếm xung quanh vị trí đóng quân, nấu với bột ngọt.

            Bữa cơm ngay giữa doanh trại của quân Pôn Pốt làm chúng tôi cảm thấy ngon hơn …tự hào và kiêu hãnh hơn … Hơn chục người của tiểu  đoàn bộ ngồi chồm hổm xung quanh thau cơm với cái dĩa 2 ngăn đựng thức ăn. Khói cơm nghi ngút… Miệng đc nào cũng nhai ngấu nghiến… Vì sáng nay toàn ăn cơm nắm… Cậu liên lạc tiểu đoàn (lâu quá tôi không nhớ tên) nháy nháy mắt nhìn tôi và đ/c Miên: “Thủ trưởng ơi! Em thấy ngoài kia có mấy con gà mập lắm…Chắc là của lính Pôn Pốt”. Đc Toán vội vã hưởng ứng: “Đêm nay cho chúng mày bắt làm thịt”. Đ/c Miên nhìn tôi có ý thăm dò  rồi nhìn đ/c Toán lên tiếng: “ông học thuộc 9 điều quy định chưa?”. Tôi chỉ cười… Trong bụng thì suy nghĩ, gà ở đây không phải của lính Pôn Pốt thì còn của ai! Và chắc mẩm đêm nay thế nào cũng được chén một bữa thịt gà thỏa thích…

            Cơm đang ngon miệng…bỗng nghe tiếng “Rắc” từ trong miệng đ/c Toán. Tay phải liệng đôi đũa, tay trái ném bát cơm ra ngoài cách độ 2 mét. Đ/c Toán mặt hầm hầm về võng nằm… Đ/c anh nuôi và mấy cậu liên lạc “xanh mặt”.

            Thì ra đ/c Toán cắn phải cục sạn, chắc là răng bị mẻ, đau nên nổi quạo… Đ/c Miên coi bộ không vui, nhìn tôi và nói: “Kệ nó! Anh em mình cứ ăn cơm đi…”. Lúc này tôi mới thấm lời anh út Đậu căn dặn khi giao nhiệm vụ cho tôi làm đặc phái viên của tiểu đoàn này: “Cậu nhớ làm trung  gian đoàn kết cho ban chỉ huy tiểu đoàn. Thằng Toán tính nó như Trương Phi…. được cái đánh giặc giỏi!...” Tôi mỉm cười và nói thật lớn, cốt để cho đ/c Toán nghe rõ: “Không ăn nữa thì đói bụng ráng chịu, ở đây không phải như bên Việt Nam đâu mà ra chợ kiếm được quà bánh…”. Một lát sau, đ/c Toán lồm cồm ngồi dậy đi nhặt bát (may mà cái bát chưa bị bể), kéo vạt áo lau đất bụi, bới cơm chén tiếp, vừa ăn Toán vừa nói: “Tôi xin lỗi anh Kiên và các đ/c, tại cục sạn nó làm tôi đau quá…!”. Anh em ai cũng vui cười…Đ/c anh nuôi cũng cười…

             16h tôi nhận được điện của anh út Đậu “trở về ban chính trị thay cho anh Nguyễn Lộc Nhu có công việc phải xuống công tác tại tiểu đoàn 2”. Lúc này C20 đã tăng cường máy 2W, cộng  với 3 máy dự phòng của tiểu đoàn nên việc liên lạc giữa trung đoàn và tiểu đoàn  rất thuận tiện, nhanh chóng. Vừa đánh giặc, vừa hành tiến nên thông tin vô tuyến điện trở thành phương tiện chủ lực.

            Anh út Đậu tên thật là Nguyễn Minh Đậu, bí danh là Nguyễn Minh Hồng lớn hơn tôi 7 tuổi, quê ở Thoại Sơn – An Giang. Là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đánh Mỹ, gia đình có 2 anh em trai (người anh ruột là Nguyễn Minh Đường) đều tham gia cách mạng từ phong trào học sinh, sinh viên rồi vào quân đội. Anh út Đậu dáng người vừa vặn, khuôn mặt lúc nào cũng vui, nhìn rất phúc hậu. Tính tình của anh mềm dẻo, nhã nhặn nhưng trong công việc lại rất kiên quyết. Anh là người luôn chú ý và thường xuyên quan tâm đến tôi. Mỗi lần được anh giao nhiệm vụ tôi đều cảm thấy hài lòng và ấm áp vô cùng… Sau này anh được phong quân hàm đại tá về làm chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh An Giang, là đại biểu Quốc hội. (Anh từ trần cuối năm 93 do bị tai biến mạch máu não khi đang cùng đoàn đại biểu quốc hội tiếp xúc cử tri). Vợ anh là một chiến sĩ biệt động thành, bị địch bắt và bỏ tù tại Phú Quốc và được trao trả năm 1973. Hiện nay chị vẫn cùng các con sống tại Long Xuyên – An Giang.

            Được 2 chiến sỹ của tiểu đoàn  hộ tống về ban chính trị, anh ba Nhu đã gặp tôi trao đổi công việc… rồi khoác ba lô đi công tác ngay. Chỉ ít phút sau chúng tôi được lệnh hành quân .

            Trung đoàn bộ gồm sở chỉ huy và ban tham mưu, chính trị, hậu cần hành quân bộ từ vị trí đóng quân ra tới quốc lộ số 2. Đoạn đường này khoảng 1km. Khi còn cách mặt lộ 50m chúng tôi dừng chân.

            Quốc lộ số 2 lúc này đã dày đặc những đoàn xe quân sự đang ầm ầm tiến về phía tiền duyên (hướng Tà Keo). Đan xen trong đoàn xe là các xe vận tải quân sự cỡ lớn (GMC + ZIN 3 CẦU), Những chiếc xe tăng T54 đồ sộ với tháp pháo dài ngạo nghễ được cắm lá ngụy trang chẳng khác gì những bụi cây di động. Phía sau mỗi xe đều “cõng” thêm thùng dầu phụ dự phòng đủ sức cho các con “chiến mã” của ta “phi” trên chặng đường gần 200km tới thủ đô Phnom Pênh. Rồi đoàn xe thiết giáp M113 hùng dũng lăn xích sắt  trên mặt đường nhựa. Nối tiếp là đoàn xe kéo pháo dài hút tầm con mắt về hướng biên giới đang sẵn sàng chờ lệnh nổ máy khởi hành…Chỉ nhìn quang cảnh trên đường hành quân cũng cảm nhận được sức mạnh của những đòn phản công sắp tới của quân đội ta giáng trả bè lũ Pôn Pốt mạnh tới nhường nào. Khoảng 19h, trung đoàn bộ được hơn chục xe vận tải quân sự đến đón và ban chính trị có quân số hơn 20 người (chủ yếu là sỹ quan) được 1 xe GMC chuyên chở. Đc lái xe  tên là Thắng, (không có lái phụ). Bộ phận hậu cần cấp ngay cho gạo sấy (chỉ đổ nước sôi vào sau 5 phút sẽ thành cơm, nếu là nước lạnh thì 30 phút), cộng thêm thịt hộp, cá hộp… Ngoài ra cứ 3 người còn có 1 can nhựa đựng 30 lít nước đem theo xe, Tất nhiên ai cũng có một bình tông nước luôn luôn đeo bên mình.

            20h, xe của chúng tôi khởi hành, bám theo đoàn xe tăng và xe bọc thép trên đường quốc lộ  tiến thẳng về phía Tà Keo. Trời đêm nay không có trăng nhưng  rất nhiều sao nên không tối lắm. Các xe chỉ mở đèn gầm, xe này cách xe kia độ 40 – 50 mét. Xe chạy chậm, tốc độ tối đa chưa tới 20km/h, nhiều lúc còn dừng lại chờ cả tiếng đồng hồ mới tiếp tục “nhúc nhích”. Bộ đội ta ở trên xe đã bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Nhiều đồng chí đã nằm đại xuống sàn xe, kê ba lô làm gối ngáy o o… Lính mà! Đã suốt đêm trước mất ngủ, ngày nay mới chợp mắt được tý tẹo. Hai con mắt tôi lúc này cũng muốn nhíu lại… Ngồi trên ca bin với đ/c Liễu, chúng tôi thay nhau chuyện trò với đồng chí Thắng lái xe. Tôi ghé tai nói nhỏ với đ/c Liễu: “Tài xế nó mà ngủ gật thì mấy chục mạng con người trên xe này chỉ có toi đời”. Đ/c Liễu còn lo xa : “Đi đứng kiểu này Pôn Pốt nếu nó phục kích 2 bên vệ đường, Cho một quả B40 thì chỉ còn có nước hốt xương”. Tôi trấn an đ/c Liễu và quả quyết: “Yên tâm đi, cấp trên đã đưa các đơn vị trinh sát và bộ binh đi trước bám địch, cảnh giới và bảo vệ. Xe của ta mới dám long nhong trên lộ như thế này chứ…”.  Thế rồi, mệt quá, tôi thiếp đi …

            Bỗng nhiên người tôi bị rung, nhảy tưng lên, đầu chúi về phía trước. Giật mình mở mắt ra thì do xe vấp phải ổ gà, tài xế thắng gấp. Anh em ngồi phía sau xe la chí chóe… đ/c lái xe mắt vẫn sáng ngời, tỉnh bơ nói: “Đường này xấu quá các anh ạ”. Nghe câu nói nghĩ mà thương quá!

            Nhìn đồng hồ… tôi biết mình đã chợp mắt được gần 1h, chỉ thương cho đc lái xe và đc Liễu vì an toàn cho tính mạng của anh em đã cố gắng vượt qua cơn đói ngủ… Khoảng 2h sáng chúng tôi được lệnh dừng xe. Hai bên vệ đường là một cánh đồng xen lẫn rất nhiều cây thốt nốt. Không phải đào công sự, nên bộ đội ta trải đại tấm ni lon trên mặt ruộng, chỉ một lát sau là mọi người đã thiếp đi vào giấc ngủ mà gần như suốt đêm nay cứ chập chà chập chờn trên những chiếc xe tải lắc lư. Các xe vận tải cũng được tấp vào 2 bên lề đường, tràn cả xuống ruộng… Cấp trên phổ biến “xe đi với bộ phận nào là bộ phận đó tự quản lý để khi có lệnh hành quân là di chuyển được ngay”. Do vậy đ/c Thắng luôn luôn được tôi và Đ/c Liễu bám sát và giành cho đc một sự ưu ái đặc biệt.

            Trải tấm ni lon trên mặt ruộng, tôi, đ/c Liễu, đc Trưng nằm sát bên nhau, cũng chỉ ít phút sau là chúng tôi cũng “yên bề”.

            Khoảng 5h sáng, tôi thấy nhột nhạt và động đậy dưới chân, nhưng do mệt quá tôi mặc kệ, không cần biết có chuyện gì xảy ra. Tôi lại tiếp tục chìm vào giấc ngủ… Bỗng đ/c Trưng la toáng lên làm tôi và đ/c Liễu giật mình tỉnh giấc. Trời đã mờ sáng nên chúng tôi còn kịp nhìn thấy con rắn to bằng cổ tay đang trườn qua người đ/c Trưng, rồi bò vào mấy bụi cây gần đó. Lúc này tôi mới thật hoảng… thì ra con rắn này đã leo qua chân mình… Bò qua đ/c Liễu… rồi đến “thăm” đ/c Trưng. Cũng may nó chưa cắn ai, nếu không thì 3 chúng tôi giờ này không biết sẽ xảy ra chuyện gì…

            Suốt ngày hôm đó, chúng tôi được dừng chân chờ lệnh... Tiếng súng ở phía trước vẫn nồ đì đùng… Trên bầu trời nhiều tốp máy bay của không quân ta cứ bay qua, bay lại có cả những chiếc trực thăng (có lẽ là của các tướng lãnh đi thị sát chiến trường). Cấp trên thông báo, ta đang ở tọa độ cách thị xã Tà Keo khoảng 10 km. Trinh sát được tung ra bám địch, các tiểu đoàn bộ binh cũng được giãn đội hình tạo thành các chốt điểm đề phòng quân địch quay lại phản kích.

          2h sáng ngày 5/1/1979. Sư đoàn 330 đã đánh chiếm xong thị xã Tà Keo. Các trung đoàn bộ binh được lệnh hành quân áp sát, truy quét tàn quân địch từ trong thị xã bỏ chạy ra ngoài.

            5h sáng chúng tôi đã có mặt tại một góc hướng Đông Nam của thị xã Tà Keo, khi sư đoàn 330 đã vượt qua và đang tiếp tục hành tiến về hướng PhnomPenh.

            Tại khu vực chúng tôi tiếp quản, nhà cửa đều hoang vắng, lỗ chỗ trên tường còn nhiều vết đạn, chắc là của sư đoàn 330 và các đơn vị đi trước giao tranh với quân Pôn Pốt để lại. Tôi leo lên tòa nhà 2 tầng xây theo kiểu biệt thự của Pháp đã cũ kỹ, lớp vôi quét trên tường và lan can theo kiểu lục bình đã hoen ố. Vào bên trong nhà nồng nặc một mùi hôi tanh từ các bữa ăn của quân Pôn-Pốt còn vương lại. (Mà món nào cũng có mắm bọ-hóoc). Vài 3 chiếc bàn ghế và đống giấy tờ viết bằng chữ Miên vứt ngổn ngang. Đây chính là nơi sở chỉ huy của quân khu Tây-Nam Pôn-Pốt đồn trú, lúc này đã lọt vào tay Quân đội nhân dân Việt nam, mũi tiến quân số 3 (quân khu 9) trong đó có trung đoàn 156, sư đoàn 339 của chiến dịch tổng phản công trên chiến trường CPC

            9h sáng ngày 5/1/1979, chúng tôi được lệnh rút ra ngoài nhường chỗ cho sư đoàn bộ sư đoàn 339 vào tiếp quản, rồi sau đó  bàn giao cho trung đoàn bộ binh tỉnh An Giang đảm nhiệm. Và ngay chiều hôm đó tôi đã nhận được tin, đ/c Nhượng phó ban tuyên huấn sư đoàn 339 hy sinh tại thị xã Tà Keo. Sau này tôi được anh Xuân Tư, trưởng ban tuyên huấn sư đoàn kể lại cặn kẽ giây phút hi sinh của anh Nhượng.

            Khi E bộ 156 rút khỏi Tà Keo là xe của cơ quan sư đoàn bộ 339 tiến vào và Sở chỉ huy sư đoàn quyết định tạm đóng tại đây để chỉ huy các mũi tiến quân tiếp tục tiến về phía trước, đ/c Nhượng đã vướng phải quả lựu đạn gài của quân Pôn pốt để lại và hy sinh ngay, thi thể đ/c Nhượng được gói bằng ni lon rồi chuyển ngay về phía sau (có lẽ được mai táng tại nghĩa trang biên giới, Tịnh Biên Nhà Bàng). Nghe đến đây tôi không cầm được nước mắt vì nhớ thương người đồng đội mà tôi đã “hoán đổi vị trí” chỉ cách đây hơn nửa tháng. Hình ảnh của anh Nhượng, anh Tư Tường, anh ba Thu Sơn khi chúng tôi trao đổi công việc tại phòng chính trị sư đoàn 339 vẫn còn như in trong tâm trí tôi. Viết tới đây, tôi bồi hồi nhớ lại vào cuối năm 1972 khi còn ở E207. Đ/c Thoại về thay chỗ cho tôi (Tại cơ quan tuyên huấn thuộc ban chính trị) để tôi xuống đơn vị chiến đấu, chỉ 2 năm sau đến  cuối năm 1974 đ/c Thoại đã hy sinh tại vùng 4 Kiến Tường. Vậy là trong đời binh nghiệp của tôi đã có 2 đồng đội “thế chỗ… thế mạng…” để cho tôi còn sống sót đến tận bây giờ.

            11h ngày 5/1/1979, chúng tôi được lệnh lên xe tiếp tục hành quân tiến đánh thị xã Koom Pông Xư Pư.

 

(còn nữa…)

LSV (g/th)

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích