Hồi ký chiến trường_31/40 (VTK)

31/05/2016,15:08:09 | 2973 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG – BÀI 31

VŨ TRUNG KIÊN – CCB E207

 

 

 Sau trận đánh phản công đuổi quân pôn pốt rút chạy về bên kia biên giới, vùng đất Sông Trăng giáp biên giới Việt Nam – CPC đã sạch bóng quân thù, nhưng với bản chất của lũ quân xâm lược chúng quyết không từ bỏ ý định tiến sâu vào đất nước ta.

 Trên địa bàn sát biên giới do trung đoàn đảm nhiệm, ba nơi chốt chặn là Gò Chuối, Gò Chùa, Lò Gạch là 3 cái “gai” trong con mắt của bọn chỉ huy quân địch, nên chúng quyết tâm dùng mọi thủ đoạn để “nhổ” cho bằng được mà vị trí Gò Chùa được chúng liệt vào vị trí quan trọng nhất.

 Chiếm được Gò Chùa, chúng đương nhiên chia cắt được Gò Chuối, Lò Gạch, từ đó có thể đánh chiếm Gò Pháo, ấp Kênh (nơi có cơ quan đầu não của trung đoàn, trận địa pháo và kho vật tư, hậu cần).

 Gò Chùa nơi cố thủ của tiểu đoàn 1 lúc này với quân số khoảng 500 người nhưng đại đa số là anh em tân binh quê ở Miền Tây, thời gian huấn luyện được rất ít và kinh nghiệm chiến trường chưa có. Số anh em miền bắc đã kinh qua chiến đấu thì lúc này đang ở các vị trí cán bộ A,B,C,D. Khoảng 10h tối ngày 21/6/1978 nhận được tin báo khẩn cấp của lực lượng vệ binh… Đc trung đoàn trưởng và quyền chính ủy đã huy động hầu hết các trợ lý của ban tham mưu và ban chính trị tháp tùng cùng ban chỉ huy trung đoàn đến ngay khu vực ngã tư, nơi giao nhau của con đường đất và kinh Mới. Gần đó là sân của kho vật tư thuộc cơ quan hậu cần. Khi chúng tôi ra tới thì thấy khoảng gần 100 chiến sỹ (toàn lính tân binh) đang ngồi xếp lớp hai bên vệ đường có đầy đủ ba lô súng đạn với những khẩu B41, B40, RPD, AK… Tìm hiểu kỹ chúng tôi mới rõ số chiến sỹ này thuộc tiểu đoàn 1 mới nhập ngũ đầu năm 1978, do còn quá non trẻ và thiếu bản lĩnh, phần vì sợ ác liệt đã tự động bỏ chốt phía trước…lui về phía sau. Mặc dù cán bộ “khung” từ A  đến D của tiểu đoàn 1 biết rất rõ điều này, nhưng do trời tối…anh em lại lén bỏ đi nên chưa có cách giải quyết. Ban chỉ huy tiểu đoàn đã ra lệnh cho các đại đội đang chốt chặn giữ trận địa, giãn quân ra lấp vào các “lỗ hổng”, cảnh giác cao độ sẵn sàng chiến đấu. Sở chỉ huy trung đoàn đã điều C21 ra phối thuộc tăng cường cho trận địa tiểu đoàn 1 (bù vào quân số anh em tân binh tự động lui về phía sau).

 Tại sân nhà kho vật tư, các đồng chí thuộc cơ quan tham mưu đã tập hợp số anh em tân binh lại và được đồng chí quyền chính ủy tiếp xúc nói chuyện… Khoảng 30 phút sau, toàn bộ anh em đã tình nguyện quay trở lại trận địa. Cơ quan hậu cần điều ngay 3 chiếc xe GMC chuyên chở số anh em từ ấp Kênh, trở lại Gò Chùa (về hướng biên giới). Lúc trèo lên xe nhiều anh em tân binh (lúc này đã vững tâm, không còn sợ sệt) vui cười hớn hở…có mấy đ/c cười giỡn nói vui “Hồi nãy đi bộ mỏi chân bỏ mẹ…bây giờ được đi bằng cơ giới sướng thật”.

 Khoảng 2h sáng, ban chỉ huy tiểu đoàn 1 báo về, trận địa chốt đã vững vàng trở lại và tất cả đều vào vị trí sẵn sàng chiến đấu…

 Đúng 4h sáng ngày 22/6/1978 bất ngờ quân pôn pốt mở đợt tấn công vào vị trí Gò Chùa. Mới đầu chúng dùng pháo cối đủ các loại cấp tập bắn phá trận địa của tiểu đoàn 1, sau đó dùng nhiều mũi xung lực xông lên quyết tâm chọc thủng trận địa phòng ngự của ta. Từ sở chỉ huy trung đoàn, đc trung đoàn trưởng và quyền chính ủy trực tiếp theo dõi trận đánh qua máy điện thoại để có những mệnh lệnh kịp thời. Pháo 105 cùng với trận địa cối 82 và DKZ75 được lệnh khai hỏa,  chi viện cho tiểu đoàn 1. Tiểu đoàn 2 và 3 cũng được lệnh sẵn sàng cơ động chi viện khi có yêu cầu.

 Từ BCH tiểu đoàn 1 báo về “trận chiến giữa ta và quân pôn pốt mỗi lúc mỗi gay go, ác liệt. Bởi đã có ý đồ và chuẩn bị từ trước nên pháo bắn thẳng và cầu vồng của địch dội xuống trận địa tiểu đoàn 1 rất dữ dội, hàng ngàn quả đạn từ cối 61 đến cối 82 phủ xuống bao trùm khu vực Gò Chùa ( nơi căn cứ trung đoàn bộ trước đây), nhiều nhà lán, E bộ để lại cho D1 bị trúng đạn pháo của địch bốc cháy sáng rực cả một góc trời…”

 Trời sáng dần, thời gian đang chuyển sang có lợi cho ta, bộ đội ta ở trong các công sự đã nhìn rất rõ quân địch. Những loạt súng bộ binh và hỏa lực của ta đã được phát huy tuyệt đối hạ sát nhiều tên địch liều lĩnh… Mặc dù quân địch đông hơn ta gấp rất nhiều lần nhưng chúng vẫn không thể nào “bén mảng” được đến trận địa có những tay súng kiên cường quyết tâm giữ từng tấc đất của quê hương.

 Ngó bộ kham không nổi, 5h30 sáng ngày 22/6/1978 quân pôn pốt lặng lẽ lui quân về bên kia biên giới. Mảnh đất thân yêu của tổ quốc dọc sông Trăng được giữ vững.

 Trận đánh kết thúc, bộ đội ta hy sinh 3 đc và 5 đc bị thương, đổi lại quân địch bỏ lại hơn 30 tên nằm phơi xác trước trận địa tiểu đoàn 1, rất nhiều xác chết và lính bị thương được chúng lôi về bên kia biên giới. Lại thêm một bài học đắt giá cho lũ quân xâm lược.

 Ngày 26/6/1978 trung đoàn mở hội nghị quân chính rút kinh nghiệm, có đại diện bộ chỉ huy sư đoàn tham dự. Hội nghị nhất trí đề nghị cấp trên tặng thưởng huân chương chiến công cho tập thể cán bộ chiến sỹ tiểu đoàn 1.qua 2 trận đánh (ngày 17 +22/6/1978)

 Vậy là chỉ trong 5 ngày tiểu đoàn 1 đã trải qua 2 trận đánh kiên cường giữ chốt. Khí thế quyết tâm chiến đấu đánh giặc lập công giữ gìn biên giới, biên cương được phát động toàn trung đoàn. Bộ đội được lệnh tiếp tục củng cố công sự, nâng cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết không để một tấc đất thân yêu của tổ quốc lọt vào tay quân xâm lược. Tuy nhiên, sự việc gần 100 chiến sỹ tự động bỏ về phía sau cũng được đề cập để rút kinh nghiệm cho các cấp lãnh đạo… và cố gắng không để lặp lại

 Ngày 28/6/1978 ban chính trị trung đoàn nhận được điện “cử 1 cán bộ cùng đc chính ủy họp tại phòng chính trị sư đoàn”. Anh Cúc có công việc gia đình đang ở tại Bình Phước Xuân- Chợ Mới- An Giang. Anh Lợi đang công tác tại quân khu. Vậy là ban chính trị lúc này chỉ còn mình tôi đủ “tư cách thế chân”. 4h sáng hôm đó tôi đã thức dậy, súng đạn chỉnh tề… thì bất ngờ thấy anh Bảy Việt và 2 vệ binh ( đi hộ tống) đã đến ngay nhà cơ quan tuyên huấn, anh Bảy ghé tai nói nhỏ với tôi: “Có vợ lên thăm, Kiên ở lại, anh đi họp thế cho…” tôi thật cảm động về tấm lòng thương yêu cán bộ cấp dưới của người thủ trưởng…

 Quân Pôn Pốt bị 2 trận “đòn” nên chúng đã biết tự lượng sức mình, không còn dám hung hăng, liều mạng… hơn nữa, lúc này cũng bắt đầu vào mùa mưa. Trên cánh đồng nước đã ngập, chỉ còn con đường đất từ Hưng Điền qua Gò Chùa- Gò Pháo,- Ấp Kênh- Gò Gòn, nên bọn địch cũng không dám liều lĩnh …

 Tranh thủ thời gian này bộ đội ta vừa sẵn sàng chiến đấu vừa tổ chức học tập chính trị. Đặc biệt công tác tư tưởng được trung đoàn hết sức quan tâm. Nhất là đối với anh em chiến sỹ mới. Nhiều nội dung … những gương chiến đấu người tốt… việc tốt… của trung đoàn qua bao năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành được nêu ra (làm tài liệu học tập cho bộ đội) mà công tác soạn thảo đều do cơ quan tuyên huấn đảm trách…

 Đến cuối  tháng 8 năm 1978, bệnh cũ của tôi bất ngờ tái phát ( do bị sức ép bom ở trận đánh năm 1970 tại thị trấn Kom pong Thơ Mo). Anh Vũ Nhụy đã giới thiệu lên bệnh xá sư đoàn rồi chuyển thẳng về bệnh viện K120điều trị, và ở đây thật bất ngờ, tôi đã gặp đc Vũ Chí Nghiêm (nguyên chính trị viên C25 đặc công) đang nằm điều trị tại khoa nội 4. Tôi được sắp xếp vào khoa nội 3 cùng với anh Nguyễn Văn Lưỡng (Sáu Lưỡng) lúc này đang làm tham mưu phó tỉnh đội Tiền Giang và thời gian sau tôi lại cùng anh về chung 1 trung đoàn tiến lên tiêu diệt quân pôn pốt ở chiến trường CPC.

 Gặp lại đc Vũ chí  Nghiêm, hai chúng tôi mừng lắm (bởi Vũ chí Nghiêm đã rời khỏi trung đoàn từ cuối năm 1975 khi thành lập đoàn 675 quản huấn sỹ quan cấp úy của quân Ngụy Sài Gòn).

 Bệnh viện K120 ở tại Bình Đức, Mỹ Tho rất gần kho đạn (chỉ cách độ 1km) nên chúng tôi thường xuyên chứng kiến đêm đêm pháo sáng được bắn lên và tiếng xe thiết giáp của ta “gừ gừ” đi tuần quanh lớp hàng rào kẽm gai để bảo vệ an toàn tuyệt đối cho kho vũ khí: “một tài sản quý giá thu được từ tay quân giặc” bây giờ đang là phương tiện cần thiết để bảo vệ tổ quốc.

 Bệnh viện lúc này đã có đầy đủ các khoa, nhưng khoa ngoại lúc nào cũng  quá tải. Thương binh cứ nườm nượp từ ngoài mặt trận chuyển về, nhiều đc bị cụt tay, cụt chân, vỡ đầu, sứt mặt… Không đủ giường cho thương binh nằm, nên khoa ngoại chuyển cả thương binh sang khoa nội nằm chung. Ở trại nội 3 chúng tôi có đông chí tên Nguyễn Thế Hậu của sư đoàn 330 chuyển về, nằm chỉ cách tôi 4 giường. Đc Hậu quê ở Hưng Yên, bị thương vào đầu nên tính tình rất “khác thường”, thỉnh thoảng đc lại la hét um sùm trong đêm đánh thức gần 30 bệnh nhân “khỏi phải ngủ”. Nhiều đêm đc không la hét thì bất cứ lúc nào khi thấy anh em trong khoa đã ngủ hết thì đến tốc mùng của từng người rồi dùng 2 tay banh mắt, nếu nhìn thấy ai “không mở mắt”. Cả trạị nội 3 lúc đầu ai cũng “bức rứt” sau dần dần đâm quen… vào buổi trưa hôm đó bất ngờ nghe tiếng đc Hậu la lối om sòm ngoài bể nước (lúc đó cả khoa chỉ có 1 bề nước lộ thiên để cho anh em đánh răng , rửa mặt còn tắm giặt thì phải ra sông Bình Đức cũng gần đó). Khi chúng tôi ra tới bể nước thì “tóm” được đc Hậu đang trần truồng như nhộng bơi bì bà, bì bõm trong bể nước, cả bể nước ôi thôi, khỏi dùng nữa nhé, nhưng thương đồng đội bị thương nên mới thành ra như vậy, chúng tôi lặng lẽ chịu đựng…

 Vì là chiến hữu cũ nên ở bệnh viện, tôi và đc Nghiêm lúc nào cũng “sát cánh” bên nhau. Các chị Ba Tiến, bs trưởng khoa nội 4 (vợ của anh Tám Thổ, nguyên thiếu tướng tham mưu trưởng quân khu 7. Hiện anh chị đang sinh sống tại Mỹ Tho), chị Hai Xim, bs khoa ngoại quê Trà Vinh đi tập kết trở về, anh Tề Văn Tiến, chủ nhiệm khoa nội 3 (sau chuyển về công tác tại bệnh viện Chợ Rẫy) và chúng tôi rất quý nhau và có nhiều kỷ niệm của những ngày nằm viện. Tôi nhớ nhất một buổi đi xem phim: Tối hôm đó ngoài thành phố Mỹ Tho có chiếu bộ phim “Mối Tình Đầu”. Chỉ có 3 “thằng” chúng tôi mà dám dũng cảm “nê” theo gần chục cô bác sỹ, y sỹ, y tá trên những chiếc xe đạp. Khi giãn phim ba chúng tôi phải vội vàng chạy bổ vào bãi giữ xe vác từng chiếc ra ngoài cho khỏi bị chậm trễ giờ về và hơn hết cũng để làm “vẻ vang” cho “tinh thần nghĩa hiệp” của những người lính ( dù mặt mũi chúng tôi méo xệch vì quá mệt….) …

 Cũng thời gian ở bệnh viện, tôi được Thúy và mẹ Thúy ( bây giờ là vợ và nhạc mẫu của đ/c Phan Xuân Thi đến thăm khi biết tôi nằm viện nơi này). Thông qua tôi, Thúy đã hiểu thêm rất nhiều về Thi (người bạn chí cốt của tôi) và tình yêu của hai người ngày càng mặn nồng…rồi tiến tới hôn nhân vào đầu năm 1979. Trong lúc đang viết bài này thì tôi nhận được thiệp mời của Thi và Thúy báo tin con gái của Thi và Thúy là Phan Thị Dạ Lý sẽ tổ chức đám cưới vào ngày 15-12-2013 này, tại thành phố Hồ Chí Minh và bằng mọi giá, tôi sẽ đến chung vui với Thi, Thúy cùng các cháu.

 Đến giữa tháng 10 năm 1978, sau thời gian nằm viện tôi lại trở về đơn vị. Lúc này mức nước ở các sông dâng lên rất cao tạo thành một trận lũ lụt lịch sử ở miền Tây Nam Bộ mà theo các người lớn tuổi kể lại gần 20 năm mới tái lập 1 lần (1961 – 1978). Nước lũ lên nhanh đã nhấn chìm hầu hết các diện tích lúa và hoa màu chưa kịp thu hoạch, tạo ra cơn sốt thiếu lương thực cho cả vùng đồng bằng Sông Cửu Long và trên cả nước. Nhân dân và cán bộ công nhân viên đã phải ăn độn bằng bo bo hoặc bắp. Tai hại nhất là các tuyến lộ lưu thông ở vùng miền Tây Nam Bộ đều bị nước nhấn chìm. Con lộ từ Mộc Hóa đi ra Cai Lậy cũng bị ngập nước hoàn toàn, việc cơ động của bộ đội và đi lại của dân đều phải bằng phương tiện đường thủy. Vùng đất Đồng Tháp Mười lênh láng như một biển nước. Những gò đất đóng quân của bộ đội cũng bị nước đe dọa. Xuất phát từ những yếu tố khách quan, toàn bộ trung đoàn đã được lệnh dời về Mộc Hóa ( thay thế vị trí đóng quân của sư đoàn bộ).

 Chúng tôi tiếp quản một khu trại gia binh của sư đoàn 9 quân Ngụy Sài Gòn để lại, nhà có vách xây lợp toàn bằng tol hoặc Fibro xi măng cũng đã bị ngập nước có chỗ tới gần 1m. Bộ đội ta phải dùng gạch đá kê kích giường chõng lên vừa để làm chổ ngủ, vừa để chứa đựng đồ đạc. Nhà này muốn đi qua nhà kia chỉ còn có cách săn quần lội nước… Nhiều bộ phận sáng tạo đã bắc cầu khỉ nên đi trong nhà cứ phải cúi lom khom (không cẩn thận là va đầu vào mái tol..) Sống trong cảnh “trên giường, dưới nước”. Suốt ngày chỉ bó gối trong căn nhà thấp lè tè. Nên thời gian rãnh rỗi chúng tôi làm cần câu cá, nhiều lúc ngồi ở trên giường mà câu được cá … mới tuyệt làm sao….

 Đến đầu tháng 11/1978, chúng tôi nhận được tin: “sét đánh ngang tai”. Bộ quốc phòng và quân khu quyết định điều toàn bộ lực lượng cán bộ của trung đoàn 1 (207)  đi bổ sung xây dựng nòng cốt cho các đơn vị trong toàn quân.

Anh Mạnh (trung đoàn trưởng), anh Du, anh Chương….được điều về quân khu 1.

Anh Chính, anh Tố về trung đoàn 320.

Anh Nghị, Hợp, Hà, Hùng, Định, Dịu, Soạn…về đoàn 50 ( sau này là đoàn 622)

Anh Năm Thắng, Diệu, Cửu…về phòng thông tin quân khu.

Anh Lợi, Phạm Hậu…về phòng chính trị quân khu.

Anh Mạnh (khịt), Thanh… về tỉnh đội Đồng Tháp.

Anh Bảy Việt, Thái, Dần, Khoái, Vũ Nhụy… về sư đoàn bộ sư 8.

Tôi, đ/c Phan Xuân Thi, An Xuân Triển, Hồ Minh Sanh, đc Liễu… về sư đoàn 339 (tuy nhiên việc điều động cán bộ không diễn ra cùng một lúc mà chia thành nhiều đợt).

 Tôi là người trong nhóm đầu tiên rời khỏi trung đoàn. Cầm quyết định trong tay, làm bữa cơm thân mật với anh em thuộc cơ quan tuyên huấn, ban chính trị tại Mộc Hóa. Chia tay với tôi, đ/c Thi và anh Nghị đều ngậm ngùi, chẳng thể ngờ những người lính chiến chúng tôi, đã từng bao năm gắn bó và sát cánh chiến đấu, giờ đây lại có phút giây tiễn biệt xao xuyến như trong phim tình cảm… lòng lưu luyến…chẳng muốn rời xa nhau…

 Tôi khoác ba lô rời trung đoàn thân yêu mà hai hàng nước mắt tuôn rơi…

 

(….còn nữa)

LSV giới thiệu

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích