Hồi ký chiến trường_29/40 (VTK)

31/05/2016,15:07:19 | 2448 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG – BÀI 29

VŨ TRUNG KIÊN, CCB E207, QK8

 

 

Biên giới Tây Nam 1978 – (Nguồn: Lịch sử Quân sự VN)

 

“…Miền Tây, lửa cháy từng thân cỏ

Mới gặp bạn cười đã thấy bạn hy sinh…”

(Thiều Quang Thạch, CCB E320, QK8 – Blog LSV)

 

            Cuối tháng 12/1977, vì tình hình biên giới đã trở nên căng thẳng thật sự, nên sở chỉ huy trung đoàn được chuyển về đóng quân tại ấp Kênh cách biên giới khoảng 8km. Gò Chùa, ngã ba Lò Gạch, Gò Chuối là nơi đóng quân chốt chặn của 3  tiểu đoàn bộ binh 1,2,3. Khu vực Gò Pháo là trận địa của cối 82 và DKZ75, sẵn sàng chi viện hỏa lực cho 3 tiểu đoàn . C18 (12ly8) lúc này do đc Linh làm chính trị viên được tăng cường phối thuộc trực tiếp cho 3 tiểu đoàn phòng ngự chốt chặn phía trước.

            Thời gian này, anh Hai Thu và anh Lê Tựu lại được điều về nhận nhiệm vụ tại quân khu và anh Bảy Việt được bổ nhiệm quyền chính ủy, anh Hai Mạnh (người dân tộc quê Cao bằng) được quân khu điều về làm trung đoàn trưởng.

            Anh Hai Mạnh có dáng người cao, to nước da ngăm đen, hiền lành, tác phong chậm rãi nhưng trong  giải quyết công việc lại rất kiên quyết. Anh Hai Cúc được quân khu điều về làm chủ nhiệm chính trị thay cho anh Bảy Việt.

            Cả 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và nhà ban chỉ huy trung đoàn nằm 2 bên 1 con đường đất rộng và cao (do 2 đội quản huấn đào đắp) và doanh trại nơi đây giống hệt như lúc còn ở Gò Chùa… Cũng nhà cột tràm, lợp bằng lá dừa nước, mỗi căn có 3 phòng (kiểu mẫu rập khuôn do ban doanh trại sư đoàn thiết kế).

            Mỗi ban cũng chỉ có 1 giếng nước do bộ phận quản huấn đào sẵn nhưng nước giếng ở khu vực này thì rất khó dùng. Bởi vùng đất này là loại đất sét, màu gạch cua nên nước giếng lúc nào cũng đục như “bát đất”. Muốn ăn uống tắm giặt là lính ta phải múc sẵn đổ vào tăng nước, quậy phèn chờ vài tiếng đồng hồ mới có thể dùng được. Nhiều khi không có thời gian, bộ đội ta cứ nước đó tắm gội, giặt giũ nên da dẻ và quần áo cứ loang lỗ màu da bò. Nhìn cũng “đẹp mắt” ra phết…

            Tại khu đóng quân mới, nhà ở của cơ quan tuyên huấn được coi là trung tâm nhất của trung đoàn bộ nên tôi và đc Thi quyết định “xây dựng” một cột cờ. Vừa biểu tượng khí phách hiên ngang của doanh trại quân đội nhân dân Việt Nam, vừa làm đẹp cho khu vực đóng quân. Ý tưởng này lập tức được anh Hai Mạnh và anh Bảy Việt đồng ý. Vậy là cánh tuyên huấn chúng tôi qua bên kho vật tư hậu cần xin được 4 cây tre rất thẳng và dài, 3 cây được ráp chụm lại làm thành tầng 1, còn 1 cây làm tầng trên. Cột cờ được dựng lên có dây thép chằng chéo hình tam giác (giống như chằng cột ăngten) nên vừa cao, vừa oai, vừa đẹp… và lá cờ đỏ sao vàng: “lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc” được bọn tôi kéo lên tung bay suốt đêm ngày. Đứng xa khoảng 3 – 4 km đã nhìn rất rõ. Mỗi ngày nhìn sắc cờ thấm máu bao đồng đội rực rỡ trong nắng gió phương Nam, lòng chúng tôi càng thêm quyết tâm gìn giữ từng tấc đất tự do vừa giành được từ tay giặc, dù có phải tiếp tục hy sinh tuổi trẻ và mạng sống của mình!

            Đầu năm 1978, hôm đó khoảng 2h chiều thì bất ngờ ở hướng Gò Pháo (chỉ cách sở chỉ huy trung đoàn hơn 1km) có những tiếng nổ ghê người. Lúc đầu, chúng tôi cứ tưởng bọn pôn pốt đã tập hậu vượt qua các trận địa phòng ngự chốt của các tiểu đoàn đánh vào trận địa cối 82 và DKZ của ta. Nhưng lắng nghe các âm thanh, ban đầu là những tiếng nổ lớn liên hồi của các loại đạn DKZ75, cối 82, B40, B41, lựu đạn, rồi xen lẫn các loại đạn nhọn, ở cùng 1 tọa độ… chỉ ít phút sau chúng tôi đã khẳng định: “ta đã bị nổ kho đạn”.

            Phải gần 4h chiều, tiếng nổ mới chấm dứt. Tôi tháp tùng cùng cơ quan tham mưu theo anh Hai Mạnh và anh Bảy Việt ra tận nơi xảy ra sự cố, thì cảnh tượng thật  đáng tiếc…

            Do chưa kịp sơ tán kho đạn và kho súng (đã được dự kiến đưa về Gò Gòn), một quả đạn pháo 122ly của bọn pôn pốt đã bắn trúng kho đạn và kích nổ toàn bộ mấy chục tấn vũ khí (dự trữ) tan tành thành mây khói. Mấy trăm khẩu AK, mấy chục khẩu B40 – B41, gần chục khẩu cối 82 và DKZ75 cong nòng… Một thiệt hại rất lớn về vật chất nhưng may mắn bộ đội ta không có đồng chí nào bị thương vong.

            Mặc dù chiến tranh biên giới đã gia tăng và mức độ ác liệt đã đến cực  điểm nhưng các phong trào văn nghệ, thể thao của trung đoàn và sư đoàn vẫn được phát động tổ chức, nhằm tăng cường tinh thần thoải mái và sức khỏe cho bộ đội có sức chiến đấu cao. Phòng tuyên huấn sư đoàn  do anh Ba Cương khởi xướng mở cuộc thi văn nghệ quần chúng… Vậy là cơ quan tuyên huấn chúng tôi cũng ráo riết thành lập đội văn nghệ để chuẩn bị cho hội thi.

            Đc Phùng Gia Thặng đang công tác dưới tiểu đoàn 1 đã được chúng tôi đề xuất xin về và được anh Cúc, anh Bảy Việt chấp thuận. Phùng Gia Thặng lúc này còn  là  hạ sỹ quan nên việc điều động phải qua bộ phận quân lực và chỉ sau 1 tuần lễ đã có mặt tại cơ quan tuyên huấn nhận nhiệm vụ.

            Thặng nguyên là giáo viên cấp 3 có tài năng “xuất khẩu thành thơ”, và giọng ca rất hay được giao nhiệm vụ làm đội trưởng đội văn nghệ không chuyên của trung đoàn. Hiện nay, Phùng Gia Thặng đang sinh sống tại Cần Thơ.

            Chiến tranh là vậy, nhưng quân đội vẫn luôn luôn chú ý và quan tâm đến “món ăn tinh thần” cho bộ đội. Báo chí các loại (báo Quân đội nhân dân, báo Nhân dân, tạp chí Văn nghệ Quân đội, tạp chí Xây dựng Đảng…) vẫn được cấp phát tới tận trung đội, tiểu đội mà cơ quan tuyên huấn là nơi “đầu mối” vì vậy Lê Minh Trí và Nguyễn Hữu Trí rất vất vả. Hàng ngày 2 đc này phải ra tận bến tàu (tắc ráng) để nhận báo chí, sách vở, tài liệu… rồi về phân phối và cấp phát xuống các tiểu đoàn, các đại đội trực thuộc và 3 cơ quan. Ngoài ra chúng tôi còn được cấp rất nhiều loại sách quý. Có quyển nặng tới gần 1 kg như:Lenin toàn tập, Leptonxtoi, Bút ký triết học, Biện chứng của tự nhiên, Những cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật… Do vậy, vừa sẵn sàng chiến đấu,  lính ta cứ tha hồ mà đọc sách…

            Sư đoàn còn tăng cường đội chiếu phim lưu động do đc Sơn làm đội trưởng (đc Sơn hiện nay đang sinh sống tại xã Tân Bình, Thanh Bình, Đồng Tháp). Chúng tôi hợp đồng với các đồng chí trong ban chỉ huy tiểu đoàn, đại đội cho bộ đội thay phiên nhau từ ngoài chốt về phía sau xem phim. Nhiều lúc do đặc thù tác chiến bộ đội ta phải xem phim ngay giữa cánh đồng, gò đất…

             Đầu  tháng 1/1978 có một gia đình từ Cai Lậy, Tiền Giang chở 1 chiếc quan tài bằng gỗ dày đến đơn vị để liên hệ xin lấy thi thể người thân đã hy sinh gần 1 tháng đem về quê.

            Liệt sỹ này (lâu quá tôi không nhớ tên) thuộc lính trinh sát của sư đoàn tăng cường cho trung đoàn và hy sinh tại biên giới trong 1 lần bị địch phục kích và được đồng đội mang về gần khu vực Gò Pháo mai táng. Liệt sỹ chỉ  còn mẹ và 4 chị gái nên được coi như “báu vật” của gia đình. Hôm ấy có gần chục cán bộ chiến sỹ của tiểu đoàn trinh sát đã tháp tùng cùng gia đình đến vị trí… làm thủ tục… rồi khai mộ. Tôi và đc Hợp, đại diện cho ban  chính trị đến tham dự và được chứng kiến những phút giây đau xót cảm động của người mẹ và những người chị Liệt sỹ

            Thi thể của liệt sỹ được gói bằng 1 tấm nilon chôn sâu hơn 1m tại 1 Gò Đất gần khu vực Gò Pháo. Bởi biết chắc chắn là người thân của mình (có bia bằng gỗ, tên tuổi, quê quán) nên khi thi hài của liệt sỹ vừa đưa lên khỏi mặt đất là người mẹ và 4 người chị gái nhào đến ôm lấy xác con, em khóc như mưa, bất chấp thi thể Liệt sỹ đang trong giai đoạn phân hủy mạnh nhất…

            Chiều hôm ấy, cơ quan chính trị trung đoàn có tổ chức 1 bữa cơm tại nhà anh Cúc để thết đãi gia đình và anh em D trinh sát, nhưng cả 5 mẹ con  hình như không ai đụng đũa. Nước mắt cư dầm giề nhìn về chiếc quan tài có người con, em thân yêu đang nằm trong đó. Chúng tôi và cả số anh em trinh sát sư đoàn cũng chẳng ai nuốt nổi cơm mặc dù đã gần một ngày chưa có cái gì vào bụng. Dù là lính chiến biết bao lần nghẹn lòng nhìn đồng đội hy sinh, nhưng hình ảnh ấy ám ảnh chúng tôi nhiều.

             Chiến tranh biên giới vẫn tiếp tục gia tăng nhưng Đảng, nhà nước vẫn có chính sách cho bộ đội về phép thăm gia đình ,người thân, đặc biệt là cánh sỹ quan cứ 2 năm 1 lần.

            Ngày 15 /1/1978, tôi được cơ quan cán bộ trao giấy phép năm (đợt 1 của năm 1978), tôi liền nhanh chóng bàn giao công việc lại cho đc Thi rồi tức tốc về quê rước vợ tôi đi cùng (bởi từ khi cưới nhau, vợ tôi chưa có dịp về thăm bố mẹ và người thân bên tôi).

            Trên chuyến tàu Bắc Nam của thời kỳ bao cấp, mặc dù toa tàu chỉ có độ 60 ghế mà họ nhét lên cả trăm người, trong đó có gần 1/3 là bộ đội (của nhiều đơn vị vừa đi phép, vừa đi công tác). Vậy là cánh lính  ta cùng nhau giăng võng bên trên để nhường ghế cho những người khác. Hơn chục chiếc võng buộc từ thanh để hành lý bên này, qua bên kia và thẳng tắp đung đưa… Nhìn cũng thật buồn cười… Nhiều lúc gặp các đc nhân viên toa tàu đi nhắc nhở…lính ta cuốn võng rồi…lát sau đâu lại vào đấy. Nhắc chán, các đc nhân viên kiểm soát đoàn tàu cũng phải “chịu thua” rồi mặc kệ… thông cảm cho những người lính ngủ võng trên rừng Trường Sơn quen rồi…

            Tàu Thống Nhất thời kỳ đó còn chạy chậm lắm, đi từ Sài Gòn ra tới Hà Nội phải mất 3 ngày 4 đêm mà ngán nhất là cái cảnh phải đi vệ sinh… Khoảng 11h tối hôm đó, bà xã tôi “có việc” phải vào trong toilét, tôi ngồi ngoài ghế chờ cả tiếng đồng hồ mà chả thấy “nàng” trở về chổ cũ. Tôi đoán chắc là có sự cố gì… Rồi vội vàng tới phòng toilet…thì ra vợ mình vẫn ở bên  trong mà không tài nào ra bên ngoài được bởi vì có  4 – 5 thanh niên đã trải chiếu ngay trước phòng toilet nằm ngủ, “tếu táo” hơn mấy thanh niên này còn móc chiếc khóa từ bên ngoài. Tôi phải “năn nỉ” mãi mấy cậu thanh niên mới chịu thức dậy, nép vào 1 bên nhường đường cho vợ tôi từ trong toilet đi ra, một cậu thanh niên không chịu ngồi dậy cứ  nằm bẹp dưới sàn tàu khi vợ tôi đi ngang liền la toáng lên: “Cái chị này đi đứng kiểu gì… vẩy cả nước đ… vào mặt người ta”. Chúng tôi  ráng nhịn cười rồi mau chóng về chổ.

            Sau 3 ngày 4 đêm, chúng tôi đã về đến Nam Định thăm cha mẹ rồi qua Thái Bình thăm bà con dòng họ sau đó  trở về Hà Nội. Tại phố Cát Linh có người cháu (con anh cả) và một số  người thân ở phố Phùng Hưng. Tôi đưa bà xã tôi đi thăm hầu hết những người thân, các khu di tích, các tuyến phố của Hà Nội rồi lại nhanh chóng vào Nam trở lại chiến trường.

            Ngày 29/2/1978, bạn bè chúng tôi thật bất ngờ có một niềm vui: “Vợ của anh Mạnh (Nguyễn Văn Mạnh) hay còn gọi là Mạnh khịt vì anh có thói quen hay khìn khịt cái lổ mũi. Bất ngờ xuất hiện tại ban chính trị trung đoàn”.

            Chuyện là: sau đợt về phép năm 1976, anh Mạnh  cưới vợ tại quê, rồi tiếp tục trở lại chiến trường. Thời gian lâu quá không thấy anh về phép làm chị sinh “nghi” và quyết định “đơn thương độc mã” vào đơn vị tìm anh “để tìm nguyên nhân và hỏi cho ra nhẽ ”.

            Chị quê ở Thanh Hóa đã nhảy tàu Thống Nhất vào tới Sài Gòn rồi hỏi thăm đường nhảy xe về Mộc Hóa. Được anh em lính sư bộ giúp đỡ chỉ đường, chị đã đến đúng ngay cơ quan Ban chính trị của trung đoàn rồi “trình báo”  là vợ của anh Nguyễn Văn Mạnh (lúc này anh Mạnh đang làm chính trị viên đại đội 7, tiểu đoàn 2). Vậy là anh Mạnh có lệnh khẩn tốc từ D2 về Ban chính trị “nhận nhiệm vụ mới”. Cơ quan cán bộ cũng rất chu đáo nhường ngay cái phòng riêng cho 2 anh chị làm phòng hạnh phúc. Anh Lợi “di tản” sang ở chung với anh Cúc còn anh Nghị sang tá túc với cánh tuyên huấn chúng tôi. Cũng tại đây mà sau này cháu Thu con đầu lòng của anh chị ra đời. Thời gian sau anh được điều về làm hiệu trưởng trường bổ túc của Tỉnh đội Đồng Tháp và hiện nay cả gia đình anh đang sinh sống tại thành phố Vũng Tàu.

            Đêm 16/3/1978, mới 1h khuya bọn pôn pốt đã cho 1 lực lượng tập kích vị trí đóng quân của tiểu đoàn 2 nằm ngay đầu Kinh Mới gần Lò Gạch. Khu vực này cách sở chỉ huy trung đoàn khoảng 3km. Đoạn kênh  do sáng cạp thi công từ sông Tân Thành nối ra sông Trăng để làm nhiệm vụ rửa phèn cho vùng đất này, nhưng mới vượt qua ấp Kênh 3km thì phải dừng lại nên chiếc sáng cạp vẫn còn nằm chình ình tại đó…

            Địch dùng cối 82 và DKZ75 nã đạn vào đội hình đóng quân của tiểu đoàn 2 rồi cho bộ binh xung phong. Đạn 12ly8 của chúng vượt qua đội hình D2 bay xèn xẹt vào nơi đóng quân của trung đoàn bộ. Những đường đạn lửa như sợi chỉ đỏ vạch ngang trên đầu chúng tôi. Toàn bộ cơ quan trung đoàn bộ được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Tôi và đc Thi “chôm”ngay 2 khẩu AK của Trí và Thuấn bò ra mép bờ kênh trước mặt, bụng bảo dạ: “bọn mày mà dám mò đến đây…nếu chúng mày sống sót được thì cũng phải bước qua xác chúng tao…”. Nhưng sự việc đã không xảy ra. Tôi, Thi và cả anh em trong trung đoàn bộ chờ mãi mà cũng chẳng thấy tên lính Pôn Pốt  nào “vác mặt” tới… Tiểu đoàn 2 đã anh dũng nổ súng đánh trả lũ quân khát máu vẫn thường xuyên gây hấn, khiêu khích, xâm lược… Gần sáng chúng đã phải lùi về bên kia biên giới bỏ lại rất nhiều xác chết và vũ khí đủ loại… Tuy nhiên, cái sáng cạp đã bị trúng mấy quả đạn B40 của chúng, vĩnh viễn trở thành đống sắt phế thải và không còn cơ hội tiếp tục khai thông con kênh chiến lược nhằm rửa phèn cho vùng đất hoang hóa đã chịu cảnh bao đời nhiễm phèn, chua, mặn…

 

(còn nữa…)

LSV giới thiệu

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích