Hồi ký chiến trường_28/40 (VTK)

31/05/2016,15:07:08 | 2424 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG – BÀI 28

VŨ TRUNG KIÊN, CCB E207, QK8

 

 

            Bước sang năm 1977 là năm lính ta “đua nhau” cưới vợ. Nghĩ cho cùng thì nước nhà thống nhất đã gần 2 năm. Nhiều đồng chí đã lớn tuổi (đặc biệt là những anh em miền Nam đi tập kết ngoài bắc rồi trở lại chiến trường). Gần nửa đời người cứ mải miết với chiến trận… với công việc… ngoảnh lại đã  “cúp thùng thiếc” cả rồi…

  “Mở màn” là anh Võ Be cưới chị Tâm giáo viên dạy tại xã Tân Long, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp. Anh Võ Be chỉ nhỏ hơn ông già vợ có 6 tuổi. Bố vợ anh Be tên là Kim, mới đầu anh Be gọi chú Ba Kim là anh…sau dần tăng lên là chú…và cuối cùng là ba. Kế đến anh Tư Dẫu cưới chị Tý. Anh Tư Dẫu lớn hơn chị Tý gần 20 tuổi. Ngày 2 người chuẩn bị làm đám cưới, anh Tám Sơn chọc anh Tư Dẫu: “Trâu già mà gặm cỏ non”. Thế nhưng sự đời nhiều khi khó đoán trước, chỉ sau đó 1 thời gian ngắn anh Tám Sơn lại quen cô giáo Mai dạy tại Gò Pháo rồi 2 người yêu nhau và làm đám cưới. Cô giáo Mai nhỏ hơn anh Tám Sơn tới tận… 23 tuổi. Đến lượt anh Tư Dẫu “trả đũa”… “Cỏ non nó làm tít mắt lão trâu già”.

            Rồi tới tôi cưới vợ. Bà xã tôi nhỏ hơn đúng 5 tuổi. Đồng đội cứ tấm tắc khen “xứng đôi phải lứa”… Sau đó tiếp tục rất nhiều đồng chí khác lập gia đình… Ôi! Đủ các lứa tuổi, đủ các niềm vui…Trung đoàn cứ liên tục “vui như tết”.

            Thời kỳ đó tổ chức đám cưới cho bộ đội ở các tỉnh phía Nam, nhất là đối với sỹ quan bài bản lắm. Thường từ lúc “triển khai” đến khi “hoàn thành” thời gian mất độ nửa năm là ít. Ví dụ như trường hợp của tôi.

            Ngay cuối năm 1976 chúng tôi đã làm đơn xin kết hôn, kèm theo một bản lý lịch bên vợ có xác nhận của chính quyền địa phương gửi cho Đảng ủy trung đoàn. Riêng tôi phải có giấy xác nhận của địa phương ngoài miền Bắc là tôi chưa có vợ. Tiếp theo đó trung đoàn cử cán bộ bảo vệ (đ/c Sở) về tận quê vợ để xác minh và thẩm tra lý lịch. Những kết quả được trình cho đảng ủy Trung đoàn: “Quyết nghị” rồi báo cáo về Bộ Tư Lệnh sư đoàn ra QUYẾT ĐỊNH. Khi đã có quyết định ban chỉ huy trung đoàn mới tiến hành kết hợp với gia đình, địa phương chuẩn bị và ấn định tổ chức ngày hôn lễ.

            Trước ngày hôn lễ khoảng 1 tuần, cơ quan tuyên huấn đã chuẩn bị một số  vật dụng cần thiết  như phông, màn, khẩu hiệu, hoa, máy chụp hình …tôi còn nhờ đ/c Nhuận (hiện đang công tác tại bệnh viện Chợ Rẫy) và đ/c Tỵ (hiện là bác sỹ chuyên khoa 2 bệnh viện K171) quẩy 2 ba lô đường đem về gia đình bên vợ để cho má làm bánh kẹo (thời kỳ này bao cấp, bánh kẹo bên ngoài phải phân phối khó mua lắm). Đặc biệt là đường cát rất khan hiếm. Vợ tôi giáo viên chỉ được phân phối 1 tháng 1 kg đường. Còn tôi sỹ quan 1 tháng được 2 kg. Cũng nhờ bạn bè trong Trung đoàn nhường tặng nên mới có khoảng 30kg đường đem về nhà trước.

 

 

Chu Văn Nhuận (Bs BV Chợ Rẫy) bế Vũ Hồng Vân con của Trung Kiên (hình chụp 1983)

 

            Ngày tổ chức đám cưới thì vui tuyệt. Trung đoàn thành lập 1 ban tổ chức hẳn hoi. Có anh Lợi, anh Nghị, anh Hậu, đ/c Thi, đ/c Hà… do đc Phan Xuân Thi làm MC. Đ/c Thuấn + đ/c Minh Trí  còn mang về 2 khẩu AK với mấy trăm viên đạn bảo vệ đám cưới. Cánh sỹ quan đc nào cũng đem theo súng ngắn (cũng bởi tình hình an ninh lúc đó chưa thật ổn định nên lính ta phải cảnh giác ấy mà). Riêng tôi ngoài khẩu súng ngắn K54 đầy nhóc đạn, tôi còn thủ theo gần chục quả lựu đạn (loại mini dùng cho đặc công). Cũng tại cái vụ này mà bà già vợ tôi hết hồn hết vía …

         Chuyện là, gia đình bên vợ tôi làm nghề thuốc bắc, nên cái phòng ngủ của chúng tôi có một chiếc tủ rất nhiều hộc (giống như ngăn kéo), số lựu đạn mang về được tôi cất vào 1 hộc tủ thuốc. Khi trở về đơn vị tôi quên khuấy. Độ nửa tháng sau má vợ tôi mở hộc tủ và gặp ngay gần chục quả lựu đạn. Bà sợ quá lăn đùng ra xỉu (bởi má có bệnh tim). Cũng may cậu Hai của vợ tôi trước đây làm xã đội trưởng xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình cũng có mặt và ông ấy cất số lựu đạn chờ tôi về phép đem trả lại cho đơn vị. (Hiện nay cả cậu Hai và má đã mất rồi). Ngồi nghĩ lại vừa thương má…vừa thương cậu…

            Khoảng đầu tháng 6/1977, cái giếng mới của Ban chính trị đã hoàn thành và nước lúc nào cũng trong veo, mát rượi… Bên cạnh giếng cách độ 2m có một cái nhà tắm độ 4m2 quây toàn bằng lá dừa nước để cho lính ta vào tắm và thay đồ cho kín đáo. Chiều hôm đó tôi và Phan Xuân Thi rủ nhau đi tắm và ấn tượng nhất đến bây giờ vẫn còn nhớ là “2 thằng kỳ lưng cho nhau bằng dép”.

            Bộ đội ta thời kỳ đó hễ tắm là lấy dép râu kỳ lưng thì tuyệt vô cùng. Chỉ cần đưa mũi dép cao su “ủi” vài đường là bợn ghét bám trên lưng bung ra hết, xối qua vài ca nước là cái lưng đã sạch lắm rồi. Tuy nhiên lúc này cánh chúng tôi đã thành sĩ quan nên không còn được trang bị dép râu mà thay thế là loại dép nhựa Trung Quốc màu da bò, vậy là tôi và Thi lấy dép nhựa ủi lưng cho nhau … không có xà phòng thơm và dầu gội, tôi làm ngay 1 vốc xà bông bột … cũng còn tốt chán … lúc ở trên rừng thì bói cũng chẳng kiếm đâu ra xà bông … Đ/c Thi buồn cười chọc tôi: “Thật ông trời chẳng công bằng chút nào… Vợ (Cóng) ở nhà tắm gội bằng xà phòng thơm rồi xịt nước hoa, còn chồng (Kiên) “rửa đầu” bằng xà bông bột … Nghĩ cũng thấy “tủi” thật. Nhưng cứ kệ nó … lính mà … miễn sao đừng có bệnh tật gì để có sức khỏe mà đánh giặc là Ok rồi…

            Đầu tháng 7/1977, chị Tý từ Sài Gòn lặn lội đến thăm anh Tư Dẫu. Tại nhà riêng giành cho chính ủy, được lợp bằng tôn có đóng la phông, xung quanh vách được dựng bằng loại ván ép, có 1 căn buồng  để giành cho 2 anh chị. Chị đến đơn vị, anh em trong Trung đoàn coi như người chị cả và lúc nào cũng giành một sự ưu ái đặc biệt … Chiều  hôm đó anh Lợi làm thịt mấy con gà nấu cháo và mời anh chị Tư, chúng tôi cũng được hưởng sái. Vậy là căn nhà của cơ quan cán bộ rất vui và nhộn nhịp… Ăn cháo xong anh Tư cầm tay dắt chị về nhà riêng, rất tình tứ và hạnh phúc. Chúng tôi còn nhìn thấy anh xách nước từ ngoài giếng vào nhà để chị tắm. Anh Bảy Việt nói vui: “Vợ trẻ thì được cưng là cái chắc rồi!”, riêng tôi thì suy nghĩ: “Anh Tư thật thương chị … Tình cảm của những người chồng là lính … lúc nào cũng có một cái gì … rất đặc biệt …”.

            Như bài trước đã nói “cơ quan Trung đoàn bộ có máy phát điện chạy bằng dầu Diezen”. Một anh đại úy sỹ quan quân đội Sài Gòn nằm trong đội quản huấn rất giỏi nghề điện được Trung đoàn điều lên phụ trách nhà đèn. Anh ta có nhiệm vụ trông coi máy phát, kiểm tra đường dây, câu bóng đèn phục vụ ánh sáng … Tiêu chuẩn mỗi nhà chỉ được 1 bóng đèn (loại bóng tròn 75w). Và nhà tuyên huấn chúng tôi dù có 3 phòng cũng chỉ được 1 bóng ngay phòng giữa. Ánh sáng theo cửa lọt qua 2 phòng bên.

            Anh sỹ quan quân đội SG này ghiền thuốc lắm, nếu cho anh ta “đốt” thả ga 1 ngày phải hết 1 gói (20 điếu) mà 1 tháng anh ta chỉ được phân phối 5 gói (thời kỳ bao cấp mà). Cánh sỹ quan của bọn tôi lúc đó được ưu tiên hơn, mỗi người 1 tháng được phân phối 1 cây (loại Sài Gòn giải phóng hoặc Presidang). Ai ghiền thuốc như anh Lợi cũng tạm đủ. Ai không biết hút đem bán ngoài cũng được một món tiền kha khá …

            Tôi là người “ghét” thuốc nhất vì từ nhỏ đến lớn chưa hút thuốc bao giờ. Đến bây giờ cũng vậy. Vậy mà thời kỳ đó cứ mỗi tháng là quản lý phát cho 1 cây thuốc đều đều.

            Chiều hôm đó anh thợ điện đi kiểm tra đường dây, ghé vào nhà cơ quan tuyên huấn. Biết anh thèm thuốc, nên tôi tặng anh 1 cây Sài Gòn giải phóng (mà quản lý vừa mới phân phối). Anh mừng rơn và tối hôm sau anh câu cho nhà tuyên huấn thêm 1 bóng đèn. Thế có “đã” không cơ chứ!

            Thời gian này Sông Trăng đã bị bọn Pôn Pốt khống chế, nên các phương tiện vận tải của ta thường bị bọn chúng nổ súng làm hư hại tài sản có khi còn chết người. Từ Mộc Hóa chúng tôi phải đi phương tiện bằng đường thủy vào tới gần ngã ba lò gạch (cách biên giới khoảng 1 km) là phải dừng và đi bộ tắt về Trung đoàn. Để thuận tiện cho việc đi lại của bộ đội, Trung đoàn đã bố trí 2–3 chiếc máy cày MTZ kéo thùng  ngay bến làm nhiệm vụ đưa rước…

             Cuối tháng 7/1977, tôi có chuyến công tác về Mộc Hóa (nơi Sư đoàn bộ đóng quân) và ngày hôm sau  trở về đơn vị. Oái ăm thay khi chiếc máy cày còn cách cơ quan Trung đoàn bộ khoảng 2km thì bị hư máy, tôi phải xuống đi bộ về đơn vị. Trên người chỉ có khẩu súng ngắn và cái xà cột nên khỏe re. Đi cùng chiều với tôi có một người phụ nữ cũng cỡ tuổi tôi, trên tay có 2 giỏ xách nặng. Tôi đoán người phụ nữ này chắc là chị của số anh em tân binh mới nhập ngũ, nên tôi đã tình nguyện xách dùm 2 giỏ xách.

            Hai người chúng tôi cuốc bộ trên cánh đồng lúa đã cắt hết còn trơ lại những gốc rạ. Đi được một đoạn mồ hôi đã chảy dầm dề, hai tay đã mỏi rã rời. Tôi thầm ước “giá có cái ba lô mà bỏ những thứ này vào quẩy sẽ khỏe hơn nhiều, xách tay kiểu này  tôi chưa quen”.

            Đã nhiều lúc tôi muốn trả 2 cái “của nợ” cho người phụ nữ nhưng nghĩ lại mình là nam nhi, hơn nữa là người thân của đồng đội mình mà, vậy là tôi phải ráng xách cho hết đoạn đường…

            Khi tới con đường đất, chỉ còn cách sở chỉ huy Trung đoàn độ ba trăm mét, tôi mới có dịp hỏi thăm cô gái.

            - Cô vào thăm ai? Thuộc đơn vị nào?

            - Dạ em vào thăm nuôi chồng em, đội quản huấn số 2.

            Tôi sửng sốt… Thì ra cô gái này là vợ của sỹ quan quân đội Sài Gòn đang cải huấn tại đội số 2 do đồng chí Liễu làm đội trưởng đóng tại gần Gò Pháo. Từ đây đến đó còn khoảng 3km. Không lẽ để người phụ nữ “chân yếu tay mềm” này tiếp tục đi bộ 1 mình với 2 giỏ xách nặng trĩu này sao? Rất may tôi gặp chiếc xe Jeep do đ/c Cường tài xế của ban chỉ huy Trung đoàn trên đường về Gò Pháo. Tôi gửi cô gái cho Cường và mở xà cột lấy giấy, viết biên vài chữ … cho đ/c Liễu.

            Thật bất ngờ khoảng 9h sáng ngày hôm sau, cô gái hôm qua (đến bây giờ tôi vẫn  chưa biết tên) xuất hiện tại Ban chính trị và hỏi thăm vào đúng nhà cơ quan tuyên huấn, với 1 giỏ xách nặng trĩu đem tặng tôi và nói: “Chồng em là đại úy sĩ quan quân đội Sài Gòn đang học tập cải tạo … Gặp chồng em … em kể lại … Anh ấy rất ngưỡng mộ các sỹ quan của quân đội cách mạng … Anh ấy hứa sẽ học tập thật tốt để hết thời hạn trở về sum họp với gia đình. Anh ấy bảo em biếu anh giỏ quà này…”

            Tôi chỉ nhận mấy trái xoài cho cô gái vui lòng còn lại bao nhiêu bánh tét, bánh ích …tôi nhờ cô đem về cho anh em đang học tập tại đội quản huấn  .

            Đến cuối tháng 8/1977, anh Tư Dẫu được điều về làm Chính ủy Trung đoàn 77 và đ/c Nguyễn Hữu Quý được điều về làm trợ lý 2 quân lực (Trung đoàn này đến năm 1978 phình ra là Sư đoàn huấn luyện 868 và anh Tư Dẫu được bổ nhiệm làm Chính ủy Sư đoàn). Anh Hai Tựu được bổ nhiệm Quyền chính ủy Trung đoàn. Anh Tám Sơn được điều đi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Vàm Cỏ và anh Hai Thu được Quân khu điều về làm Trung đoàn trưởng.

            Anh Hai Tựu (hiện nay đang sinh sống tại Mỹ Tho), quê Quảng Ngãi đi tập kết, tốt nghiệp Học viện chính trị Trung Quốc và được điều trở lại chiến trường. Chữ viết của anh rất đẹp. Chẳng thua kém gì chữ viết trên giấy khen, bằng khen, huân, huy chương … Bởi được học hành và đào tạo bài bản cộng với tài năng thiên phú nên trong công việc lúc nào anh cũng bình thản và xem nhẹ “như lông hồng”. Tôi đã chứng kiến tận mắt. Lúc tôi và anh được mời về Quân khu tập huấn. Chiếc xe Jeep do đ/c Cường lái. Tôi ngồi trước song song tài xế. Anh ngồi một mình ở băng sau. Từ Mộc Hóa đến Cần Thơ chạy mất độ 3 tiếng đồng hồ (thời kỳ đó đường khó chạy nên xe đi chậm). Xe cứ chạy … cứ lắc lư … chồm lên chồm xuống, vậy mà anh kê cuốn sổ trên đầu gối làm việc … khi đến Cần Thơ thì đã hoàn chỉnh xong bản báo cáo của Trung đoàn dài hơn 10 trang. Nét chữ đẹp như cắt. Tôi thật ấn tượng về tài năng viết của anh.

            Anh Hai Thu quê Bến Tre cũng đi tập kết rồi được điều trở lại chiến trường. Anh rất hiền, chất phác, ít nói…

            Đầu tháng 9/1977, bọn Pôn Pốt đã gia tăng cường độ đánh phá, xâm lược Việt Nam. Vào ngày 4/9/1977, chúng đã huy động 1 lực lượng tấn công Gò Chuối nơi đồn trú của Tiểu đoàn 3. Đêm hôm đó, khoảng 2 giờ sáng, bọn địch đã  bất ngờ nổ súng (cũng giống như cách đánh của ta) chúng nã cối 82, cối 60 và DKZ vào đội hình đóng quân của D3 rồi sau đó cho bộ binh xung phong. Tiểu đoàn 3 đã dũng cảm nổ súng chống trả, xác địch nằm xếp lớp, ngổn ngang trên trận địa. Khẩu 12ly8 của C18 được tăng cường cho Tiểu đoàn 3 đã hạ nòng nhả đạn… Sau 2 giờ nổ súng, biết không kham nổi, bọn Pôn Pốt đã lặng lẽ lui quân, lôi xác đồng bọn về bên kia biên giới. Tuy nhiên gần 30 tên Pôn Pốt và nhiều vũ khí chúng đã phải bỏ lại trước mặt trận địa D3. Sáng ra ta cho người lên thu dọn chiến trường, thu chiến lợi phẩm. Bộ đội được lệnh tiếp tục củng cố công sự và sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt bất cứ kẻ thù nào dám đụng đến mảnh đất thân yêu của Tổ Quốc đã thấm biết bao máu xương của bao người con Việt trong mấy chục năm ròng đánh Mỹ.

            Trong trận chiến này, đ/c Huỳnh Việt Nam thuộc khẩu đội 12ly8 đã hy sinh và thi thể được mai táng gần khu vực Gò Pháo. Nam và Long là 2 anh em ruột quê xã Tân Long nhập ngũ cùng 1 ngày (do tôi nhận quân), hiện nay đ/c Long đang sinh sống tại xã Tân Long và thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau.

            Còn liệt sỹ Nam đang được người cháu ruột là Huỳnh Nam Việt (Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường huyện Thanh Bình) thờ cúng. Cũng chỉ có di ảnh, còn hài cốt của liệt sỹ Nam giờ này không biết nằm ở nơi nào? Nghĩa trang Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng hay vẫn còn ở nơi gần biên giới … Cháu rể của liệt sỹ Nam là thượng tá Phong (phó phòng Công an huyện Tân Hồng) đã nhiều lần tổ chức tìm kiếm hài cốt nhưng vẫn chưa tìm được … Nỗi đau này là nỗi đau chung của biết bao gia đình có con em đã ngã xuống vì cuộc chiến tranh giải phóng Dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Xin thắp một nén nhang lòng tri ân đến liệt sỹ Nam và các liệt sỹ … Đất nước khi ấy dẫu đã hòa bình nhưng vẫn còn binh đao khói lửa, nên hậu sự cho các Anh cũng chẳng được vẹn toàn…

            Cũng thời gian này đ/c Thu Bèo (chiến sỹ nữ) quê Hồng Ngự, do uống thuốc quá liều loại Cloroquin ( trị bệnh sốt rét) đã bị tử vong. Trung đoàn  tổ chức đưa thi hài của Thu Bèo về quê mai táng trong nỗi tiếc thương của bạn bè, đồng đội, cán bộ, chiến sỹ  trung đoàn…

(còn nữa…)

Vũ trung Kiên

***

 

Mất trộm đồ sính lễ

Về chuyện cưới vợ của Thủ trưởng Tư Dẫu – Chính ủy trung đoàn, có chuyện vừa cười vừa buồn như thế này.

Sau hơn 30  năm đi kháng chiến,  Sau giải phóng, thủ trưởng mới có dịp về thăm quê, ở 18 thôn Vườn Trầu, huyện Hóc môn, TP HCM, nay thuộc xã Tân Xuân, Hóc môn.

Về đến nhà thì ba mẹ thủ trưởng đã qua đời, chị còn mấy bà chị gái, biết thủ trưởng chưa có vợ, mấy bà chị làm mai mối cho 1 cô thôn nữ mới 19 tuổi cùng quê, Thủ trưởng người nhỏ, trắng trẻo đẹp trai, nói chuyện dí dủm, lại là cán bộ chính trị, thế là cô thôn nữ ưng liền.

Thủ trưởng về báo cáo đơn vị và xin cưới. Tiền bạc chẳng có, thủ trưởng lĩnh 1 tháng lương và anh em gom góp, mua được 2 chỉ vàng, làm quà sính lễ.

Trung đoàn đóng quân ở Gò Chùa – Đồng Tháp, ngày về quê làm đám hỏi, chỉ có 1 xe Jeep, trên xe có 4 người, gồm lái xe là anh Tưởng (nguyên lính C16 –E207, hiện đang sống ở Đà Lạt), liên lạc là anh Nam, (hiện đang sống ở TP HCM), vệ sỹ là anh Xuân (nguyên lính C25 đặc công, nay sống ỏ quê xã Cẩm Điền – Cẩm Giàng, Hải Dương).

Xuất phát từ Gò Chùa vào sáng sớm, đến hơn 1 giờ mới về đến An Lạc, TP HCM, thầy trò nghỉ trưa ăn cơm, và mua ít hoa quả, lúc lên xe thì cái cặp công tác của thủ trưởng trong đó có chứa đồ sính lễ bị mất cắp.

Thề là sính lễ xin cưới vợ của Trung tá chính ủy trung đoàn chỉ có ít hoa quả và … tấm lòng người lính chiến.

Cũng may gia đình Chị Tư  cũng thông cảm,

Rồi anh chị cưới nhau, chị theo anh đi khắp các chiến trường dọc biên giới Campuchia - Việt nam, cháu đầu lòng sinh tại Gò chùa.

Anh chị sinh được 5 cháu, 2 trai 3 gái, 4 cháu đã trưởng thành, có gia đình riêng , chỉ còn cháu út ở với anh chị tại xã Tân Xuân – huyện Hoc Môn – TP.HCM, anh Tư nay đã ngoài 80, nhưng vẫn còn rất khỏe – minh mẫn.

Có dịp mời các bạn đến thăm gia đình anh chị, chị Tư sẽ nhanh chóng làm mồi mấy anh em nhậu, chị làm mồi nhậu ngon và rất nhanh.

 

(còn nữa)

LSV (g/th) 

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích