Hồi ký chiến trường_27/40 (VTK)

31/05/2016,15:07:09 | 2781 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG - BÀI 27

VŨ TRUNG KIÊN

 

 

 (Biên giới Tây Nam năm 1977 – 1978; nguồn: Quân sự Việt Nam.net)

 

             Cuối năm 1976 “khung nhận quân tân binh” do tôi làm Chỉ huy trưởng giải thể sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, quân số huấn luyện xong đã được bàn giao cho Trung đoàn 1 (207) và Trung đoàn 5. Số tân binh đợt này hiện nay vẫn còn nhiều đ/c đang công tác và thành đạt trên nhiều lĩnh vực, ví dụ như:

-         Đ/c Hà Văn Thượng hiện là thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, kiêm phó chánh thanh tra của tòa án nhân dân tối cao phụ trách phía Nam.

-         Đ/c Võ Hoàng Hoa, Cục trưởng Cục thuế quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

-         Đ/c Phạm hữu Thuấn, Tiến sĩ y khoa đang công tác tại Sở y tế tỉnh Đồng Tháp.

-         Đ/c Ân, đang công tác tại công ty du lịch tỉnh Đồng Tháp, Giám đốc chi nhánh khu vực Hồng Ngự.

-         Đ/c Hải, Chủ tiệm vàng Thanh Long, thuộc thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

-         Đ/c Điển, Chủ doanh nghiệp Tôm giống  huyện Tam Nông

-         Đ/c Lê Minh Trí, Giám đốc Cục dự trữ nhà nước khu vực tỉnh Đồng Tháp.

-         Đ/c Lê Thanh Hồng, Bí đảng ủy xã Tân Long, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp.

-         Đ/c Mỹ Lệ, thượng tá công an tỉnh Đồng Tháp

            Ngày 26/12/1976, tôi và anh Năm Thắng (lúc này anh Năm Thắng đã được điều về làm Chủ nhiệm thông tin Trung đoàn thay cho anh Sáu Hiền) được đ/c Tư Dẫu và đ/c Tám Sơn mời lên giao nhiệm vụ: “Chúng tôi có trách nhiệm thẩm tra lại toàn bộ hồ sơ của số tân binh vừa được bàn giao để chọn ra những nhân tố đào tạo sĩ quan phục vụ lâu dài trong quân đội tại các tỉnh phía Nam”.

            Vậy là chiếc xe Honda 67 cá nhân (mua tại Tân Châu) đã rong ruổi đưa 2 chúng tôi đi hầu hết các huyện Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Cao Lãnh, Mỹ An, Kiến Văn… Chúng tôi gặp các anh Thanh Bần, Chủ tịch huyện Hồng Ngự; anh Năm Ngọc, Huyện đội trưởng Hồng Ngự; chú Hai Thương, Chủ tịch huyện Thanh Bình; chú Ba Dân, Huyện đội trưởng huyện Thanh Bình… và thời gian ở lại Cao Lãnh là lâu nhất. Tại nhà ban chỉ huy quân sự thị xã Cao Lãnh (bây giờ là thành phố Cao Lãnh) đ/c Đức chỉ huy trưởng đã giúp chúng tôi đến hầu hết các xã của huyện Mỹ An, Kiến Văn, Cao Lãnh (lúc đó huyện Mỹ An, Kiến Văn còn trực thuộc Cao Lãnh) cùng với chính quyền địa phương xác minh những yếu tố cần thiết theo yêu cầu của trên .

            Ngày 29/12/1976, thật bất ngờ khi biết tin chị Hai Nhị (Trương Thị Thắm) đang làm Trưởng phòng kinh tế thuộc Công an tỉnh Đồng Tháp và hai chúng tôi đã đến thăm chị.

            Tại khu nhà trước đây là trại giam của bọn cảnh sát ngụy (bây giờ là khu hội trường công an tỉnh Đồng Tháp) chị Hai tiếp chúng tôi bằng một bữa cơm có đủ các món ăn… Cháu Phương và cháu Tài mới đi học được hơn 1 năm. Thấy chị cũng chẳng khác sau 3 năm mới gặp lại. Chị vẫn đẹp, vẫn hiền dịu nhìn 2 chúng tôi ăn cơm và âu yếm nói “thấy hai đứa bay còn sống và mạnh khỏe tao mừng lắm…”. Cũng thời gian này, anh Năm Thắng dẫn tôi đến thăm chị Nguyễn Thị Sáng đang là trưởng trạm y tế xã Hòa An (em vợ của anh Huỳnh Công Trứ) và sau này hai người thành vợ chồng sinh sống ở xã Ba Sao, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Chị và anh có ba cháu. Giờ đây, cháu lớn đầu lòng đang làm Trưởng phòng thống kê huyện Cao Lãnh và vợ là cháu Loan là Tỉnh ủy viên, nguyên Phó ban tuyên giáo Tỉnh ủy, mới được điều về làm Bí thư huyện ủy huyện Thanh Bình. Cháu gái thứ 2 có chồng ở Sa Đéc và cháu út đang ở nhà với chị (mối tình của anh với cô Út Dúng trong kháng chiến trước đây không thành. Hiện nay cô Út Dúng đã có chồng và 3 đứa con đang sinh sống tại huyện Hồng Ngự).

      (Anh Năm Thắng đã qua đời vào đầu năm 2007, và tôi đã kịp đến thăm anh trước khi anh tắt thở 15 phút, chị Năm và gia đình kể lại: “Sau khi anh bị tai biến được cấp cứu tại bệnh viện Hữu Nghị 5 ngày thấy bệnh không thuyên giảm bác sĩ đã “chạy” và gia đình chuyển anh về nhà để lo hậu sự. Trong lúc hôn mê anh vẫn thường nhắc đến tên tôi”. Được cháu Huỳnh Thanh Sơn (con anh Huỳnh Công Trứ) điện gấp cho đ/c Thứng, Chính trị viên huyện đội Thanh Bình chuyển điện tiếp cho tôi báo anh bệnh nặng, tôi đã kịp đến nhà anh. Tôi chạy đến bên giường bệnh, Anh còn kịp  “ú ớ…” và từ từ yếu dần…rồi nhắm mắt… Tôi đã khóc và vuốt mắt cho anh. Anh được mai táng tại đất nhà, xã Ba Sao, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp. Ngày giỗ của anh hàng năm vào ngày mùng 6 tháng giêng âm lịch.)

            Sau chuyến công tác chúng tôi trở về đơn vị, nhưng các phương tiện cơ giới chỉ về tới Thị xã Hồng Ngự là phải stop, từ đây, chúng tôi phải đi bằng phương tiện đường thủy (ghe, xuồng, vỏ lãi, tắc ráng) rồi đi bộ băng tắt cánh đồng về nơi đóng quân. Vậy là chiếc xe Honda cá nhân không biết phải “xử lý” nó như thế nào… Cũng may nhờ đ/c Mạnh và đồng chí Thái (Ban quân y) mách nước từ trước khi lên đường… Tôi đã liều mạng  “mò” vào Ngân hàng huyện Hồng Ngự để “làm quen” tìm chỗ gửi xe…

            Tại Ngân hàng huyện Hồng Ngự lúc đó có 3 cô gái ngoài miền Bắc mới được tăng cường vào tên là Liên, Cát, Thanh. Cả 3 cô rất đẹp nhưng đều bị bệnh ghẻ ngứa (do chưa quen với nguồn nước), nhờ có ít kinh nghiệm “ngoại giao” tôi đã được cả 3 cô “mến mộ” và tình nguyện giữ xe miễn phí. Chiếc xe của tôi là chiếc thứ 9 của anh em trong Trung đoàn gửi lại, trong đó có cả chiếc xe HONDA 50 của đ/c Tám Sơn nằm trong “bãi xe” của Ngân hàng Hồng Ngự.

            Một thời gian sau đ/c Được thuộc đơn vị tôi đã cưới cô Cát và hai người chuyển ra Bắc. Đồng chí Giang cưới cô Liên và hiện nay hai người đang sinh sống tại huyện Thanh Bình. Nghe đâu cô Thanh vẫn độc thân, hiện đang công tác tại Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh.

            Đầu năm 1977, Trung đoàn 1 (207) được giao nhiệm vụ bảo vệ dọc tuyến biên giới của huyện Mộc Hóa, bây giờ là huyện Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Long An và quản lý trên 10 ngàn hecta đất nông nghiệp. Và Trung đoàn 5 (có nhiều cán bộ chiến sỹ của 207 tăng cường) đóng quân tại Thủ Thừa –Long An.

            Sông Trăng là con sông nhỏ dọc biên giới ngăn chia hai nước Việt Nam - Campuchia. Mùa nước thì lòng sông rất sâu thuận tiện cho việc lưu thông bằng phương tiện đường thủy, nhưng mùa khô nước lại cạn kiệt, thường thường mực nước chỉ ngang bụng, có chỗ chỉ ngang đầu gối, do vậy việc qua lại của nhân dân hai nước cũng thật dễ dàng.

            Cả ba tiểu đoàn bộ binh được điều đóng quân sát biên giới, chỉ cách độ 1 km, vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, vừa gieo sạ lúa trên vùng đất hoang hóa. Để giúp cho bộ đội làm kinh tế, cấp trên đã tăng cường rất nhiều loại máy, máy cày MTZ, xe vận tải GMC, sáng cạp (là loại xe KôBe cạp đất  nằm trên Sà lan )…và có cả đàn trâu gần trăm con. Anh Hai Tường - Trung đoàn phó, quê Bến Tre,  rất hay cưỡi trâu  ra xã Tân Thành nhậu chung với mấy bác nông dân. Nhìn cái cảnh anh mặc quân phục “xắn quần móng lợn”, mang quân hàm cấp tá, đầu đội nón lá (vì sợ nắng) ngồi ngất ngưởng trên lưng trâu thì …  “không thể chê vào đâu được”…

            Từ xã Hưng Điền giáp sông Trăng là một con đường đất chạy thẳng về Gò Chùa, Gò Pháo, ấp Kênh, rồi về Gò Gòn. Bên trái Gò Chùa là Gò Chuối. Sở chỉ huy Trung đoàn đóng quân tại Gò Chùa. Vị trí này cách biên giới khoảng 3km.

            Trước khi Trung đoàn bộ chuyển về đây, khu vực này đã được hai đội quản huấn sĩ quan ngụy Sài Gòn “giúp” xây dựng doanh trại cho Trung đoàn bộ…

       Khu đất cao hơn mặt ruộng khoảng 1m, rộng khoảng 10ha, trồng toàn cây me nước, được xây dựng những căn nhà bằng thân cây tràm lợp bằng lá dừa nước. Nơi này còn được trang bị máy phát điện chạy bằng dầu diezen để cung cấp ánh sáng cho toàn khu vực.

            Ngày 20/1/1977, tôi có quyết định về nhận công tác tại Ban chính trị Trung đoàn và chính thức bổ sung cho cơ quan tuyên huấn.  Vậy là sau đúng 6 năm (tháng 1/1971 – tháng 1/1977): “Vòng vo tam quốc” tôi lại trở về đơn vị cũ. Chỉ có điều đơn vị thì vẫn như xưa nhưng con người thì đã thay đổi gần hết duy còn có mỗi mình anh Lợi  (Phạm Đức Lợi) là “đóng chốt” từ đó cho đến tận bây giờ.

            Ban chính trị lúc này gồm có: Anh Bảy Việt làm Chủ nhiệm chính trị, có một y tá, một liên lạc, một quản lý, một anh nuôi.

            Cơ quan tổ chức có anh Hợp là trợ lý 1, đ/c Phạm Hậu làm trợ lý 2, đ/c Hà trợ lý 3, đ/c Hùng là văn thư.

            Cơ quan bảo vệ có đ/c Sở (bên cơ yếu chuyển qua) làm trợ lý 1, anh Hởi làm trợ lý 2.

            Cơ quan dân địch vận có đ/c An Xuân Triển.

            Cơ quan cán bộ có: anh Lợi trợ lý 1, đ/c Nghị trợ lý 2, đc Hữu thống kê, đ/c Dịu (Nguyễn Khắc Dịu) làm văn thư – hiện nay đ/c Dịu là cán bộ Vụ tổ chức, cán bộ Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.

            Cơ quan tuyên huấn có: Tôi trợ lý 1, đ/c Phan Xuân Thi trợ lý 2, đ/c Nhuận phụ trách câu lạc bộ (đ/c Nhuận hiện là tiến sĩ đang công tác tại bệnh viện Chợ Rẫy), đ/c Thuấn văn thư (đ/c Thuấn hiện là tiến sĩ công tác tại Sở y tế Đồng Tháp), đ/c Lê Minh Trí (hiện là Giám đốc Cục dự trữ nhà nước khu vực Đồng Tháp), đ/c Nguyễn Hữu Trí (hiện đang sinh sống tại xã Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp).

            Thế đấy! Đúng 6 năm “vào sinh ra tử” trên chiến trường giờ quay trở lại đơn vị cũ lên được một chức… Nghĩ lại vẫn còn “ngon” hơn anh Lợi: “cứ ngồi ì tại chỗ”…

            Cơ quan tuyên huấn được bố trí một căn nhà lợp lá, vách ngăn cũng bằng lá có 3 phòng:

            Phòng giữa nhà có bàn hình chữ nhật dùng để tiếp khách, kiêm luôn bàn ăn. Phòng bên trái làm phòng văn thư và làm chỗ nghỉ cho Nhuận, Thuấn, Lê Trí, Hữu Trí.

            Phòng bên phải làm thư viện và làm chỗ nghỉ cho tôi và Thi. Phòng không có cửa sổ nên ở vách đầu giường tôi và đ/c Thi đã tự khoét 2 lỗ trên vách lá hình chữ nhật cao 20cm, bề ngang 50cm làm lỗ thông gió cho mát và khỏi ngộp. Trong phòng có cả gần chục cây đàn ghi ta, man đô luyn…Lúc rảnh rỗi  mấy anh em chúng tôi thường hòa tấu vài bản nhạc …Thi đàn rất hay …Tôi cũng biết “võ vẽ” …Cho đến bây giờ vẫn còn nhớ nhất Thi đệm đàn cho tôi hát bài “Chiếc nón bài thơ”  hay “hết biết”… lính tuyên huấn mà…

            Tại doanh trại Ban chính trị có một cái giếng đào nhỏ xíu, có từ trước  do bộ phận quản huấn đào không đủ nước sinh hoạt nên anh Bảy Việt quyết định đào thêm giếng khác để phục vụ cho anh em tắm giặt. Vậy là gom tất cả cán bộ chiến sỹ của các tiểu ban thay nhau đào giếng. Chiếc giếng nằm cạnh đường đi, đêm hôm đó anh Bảy Việt đi họp về trời tối loạng choạng thế nào ngã xuống giếng cạn, bị cụp xương sống phải điều trị nửa tháng mới khỏi, rất may cái giếng mới đào sâu khoảng 2m, chứ nếu sâu hơn không biết cái lưng với đôi chân của anh sẽ ra sao? Giờ nhớ lại thấy thương anh quá!

            Nhiệm vụ của cơ quan tuyên huấn lúc này là soạn thảo những tài liệu học tập cho bộ đội, nhất là số chiến sỹ mới bổ sung cho 3 tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị trực thuộc và 2 đội quản huấn (giáo dục số sỹ quan cấp úy của quân ngụy Sài Gòn) nên công việc của chúng tôi rất bận rộn. Tôi và đ/c Thi cứ miệt mài chia nhau công việc (nhiều lúc đ/c Thi còn đảm nhận nhiều hơn cả tôi. Vì vậy cơ quan tuyên huấn lúc nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ).

            Ngày 28/3/1977, Trung đoàn được thông báo có đại tướng đến thăm. Vậy là sáng hôm đó, cả cơ quan Trung đoàn bộ tấp nập chuẩn bị. Sĩ quan ăn mặc quân phục mới nhất. Trung đội vệ binh súng đạn đầy đủ canh gác 3 – 4 lớp quanh khu vực nhà Ban chỉ huy Trung đoàn (nhà đ/c Tư Dẫu - Chính ủy được chọn là nơi đón tiếp đại tướng). Tôi được đ/c Tư Dẫu và đ/c Tám Sơn mời đến trước để tháp tùng, cùng các anh chuẩn bị một số nội dung cần thiết. Đ/c Du bên Ban tham mưu được phân công chuẩn bị bãi đáp cho máy bay trực thăng hạ cánh. 8h sáng, công việc chuẩn bị đã hoàn tất và tất cả đã ở tư thế sẵn sàng. Dự kiến cho bãi trực thăng hạ cánh nằm ở khu vực đồng trống cách Sở chỉ huy Trung đoàn khoảng 200m. Đ/c Du  hướng dẫn vệ binh kiểm tra rất kỹ và 4 góc cắm 4 lá cờ. Hai đống rơm to đùng được để sẵn đốt lên hun khói cho máy bay dễ nhìn. Lực lượng vệ binh tản ra bảo vệ xung quanh “sân bay”…

            Trên chiếc bàn gỗ hình chữ nhật tại nhà đ/c Tư Dẫu đã có bình trà, bộ ly và phích nước sôi, đ/c Tám Sơn và đ/c Tư Dẫu đã ở tư thế rất sẵn sàng…

            10h sáng  vẫn “im hơi lặng tiếng”… 11h trưa cũng vẫn “lặng tăm”, tôi thấy đ/c Tám Sơn và đ/c Tư Dẫu từ “sốt ruột” đã chuyển sang “bình thản”, đ/c Tám Sơn còn  nói với đ/c Tư Dẫu: “Mấy cha chắc nói dóc rồi, chẳng có tướng tá nào chịu bò đến cái vùng khỉ ho cò gáy này đâu”…

            Nhiệt độ ngoài trời lúc này rất cao vì mặt trời đã gần đứng bóng. Đ/c Tám Sơn đã cởi bỏ bộ quần áo và tháo đôi giày. Anh mặc mỗi chiếc quần đùi, ở trần, “mặt đỏ như gà chọi”…ngồi chờ đại tướng.

            Khoảng 11h30, ở ngoài cánh đồng, từ hướng Mộc Hóa bỗng thấy bụi cát cuộn lên mù mịt (lúc này là cao điểm mùa khô nên cánh đồng chẳng khác gì bãi sa mạc), đám bụi cát cứ thế tiến thẳng vào Sở chỉ huy Trung đoàn. Khi còn cách khoảng 700m, chúng  tôi đã nhìn rõ hai chiếc xe nhà binh: một chiếc xe Jeep và một chiếc xe GMC đang thẳng tiến vào hướng chúng tôi và chỉ độ 5 phút sau hai chiếc xe đã dừng cách nhà đ/c Tư Dẫu khoảng 50m.

            Đ/c Tư Dẫu đã vội vàng bước ra vì nhìn thấy anh Sáu Phú - Sư đoàn trưởng từ trên xe Jeep bước xuống. Sau cái bắt tay đ/c Tư Dẫu hỏi đ/c Sáu Phú: “Đại tướng không đến à?”. Anh Sáu Phú chỉ về phía chiếc xe GMC và chúng tôi đã nhìn thấy 4 – 5 người đang ở trên sàn chiếc GMC trèo xuống…

            Bốn vị khách đã theo đ/c Tư Dẫu và đ/c Sáu Phú vào trong nhà tiếp đón, anh Tám Sơn vẫn còn ở trần tỉnh bơ hóng gió… Vào tới nhà đ/c Sáu Phú đã vội vàng giới thiệu:

            “Đây là Đại tướng Chu Huy Mân… Đây là Thiếu tướng Lê Quốc Sản… Còn 2 đ/c này là Cục trưởng Cục tuyên huấn và Cục trưởng Cục cán bộ”... Lúc này anh Tám Sơn mới tá hỏa đi lấy quần áo mặc để  tiếp chuyện Đại tướng.

            Đ/c Du và cánh vệ binh Trung đoàn vẫn chưa hay biết gì, vẫn kiên trì bám trụ ngoài “sân bay dã chiến” chờ máy bay của Đại tướng đến thăm Trung đoàn…

            Sau này anh Sáu Phú kể lại chúng tôi mới biết “máy bay của Đại tướng chỉ bay tới Mộc Hóa và Đại tướng quyết định dùng xe GMC đến thăm Trung đoàn để thực tế được nhìn tận mắt vùng đất mà Bộ quốc phòng giao cho Sư đoàn 8. Các đ/c vệ binh Sư đoàn đã dùng rơm trải trên sàn xe GMC để Đại tướng và các đ/c cùng đi ngồi cho êm.”…

            Đầu tháng 5/1977, tình hình biên giới bắt đầu căng thẳng, bọn Pôn Pốt đã cho lực lượng trinh sát thường xuyên vượt biên giới sang thăm dò nơi đóng quân và các chốt tiền tiêu của ta để chuẩn bị cho các bước xâm lược tiếp theo của chúng…Và những hy sinh tổn thất bắt đầu trở lại với những người lính Trung đoàn .

            Đ/c Hải nguyên là chiến sĩ Tiểu đoàn 2 đã nghẹn ngào kể lại với tôi:

           Đêm 16/5/1977 Tiểu đoàn 2 được lệnh xuất kích để ngăn chặn đám lính Pôn Pốt đã thập thò bên kia biên giới. Đội hình phòng ngự chốt chặn của ta nằm cặp sông Trăng cách kho lúa xã Hưng Điền khoảng 300m do đ/c Hồ Minh Sanh - Tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy. Sau 5 ngày đêm bọn địch chỉ nằm bên kia sông Trăng và lâu lâu lại nổ súng về phía trận địa ta bằng B40 và cối 60. Khoảng 7h tối ngày 21/5/1977, một cơn mưa rất lớn đã làm nước ngập hầu hết các công sự phòng ngự của ta. Tới 12h khuya, đ/c Hồ Minh Sanh đã ra lệnh cho toàn Tiểu đoàn rút về phía sau khoảng 1km và xây dựng tuyến phòng thủ tại đây. Khi rút quân trời rất tối và mưa nên đ/c liên lạc đại đội 7 đã “quên” không thông tin cho chốt tiền tiêu do đ/c Hải và đ/c Bộ đảm trách. 4h sáng ngày 22/5/1977, cơn mưa vừa dứt, bọn Pôn Pốt bên kia biên giới đã cho lực lượng vượt sông Trăng. Một tốp lính khoảng 6 tên đã tiến thẳng vào vị trí tiền tiêu, khi chúng còn cách độ 10m, đ/c Hải và Bộ đã ném lựu đạn. Sau 2 tiếng nổ, 6 tên địch đã nằm tại trận địa, bọn địch phía sau lùi lại (vì chúng chưa hiểu gì về lực lượng ta). Tranh thủ thời cơ, đ/c Hải và đc Bộ đã bò lên lấy được 4 khẩu súng và rất nhiều đạn từ xác mấy tên lính Pôn Pốt đem về hầm, dùng nón cối tát nước mưa trong công sự để chuẩn bị chiến đấu.

            Phát hiện được lực lượng của ta quá ít, bọn Pôn Pốt đã cho lực lượng bao vây tổ tiền tiêu, chúng la ó om sòm: “Chô…chô…” và tung đủ các loại đạn về hướng công sự. Hai chiến sỹ ta với 6 súng trong đó có 4 khẩu chiến lợi phẩm mới thu được đã dũng cảm nổ súng đánh trả. Bọn địch lớp chết, lớp bị thương vẫn không thể nào chiếm được chốt tiền tiêu chỉ có hai người. Sau gần 1h đồng hồ chiến đấu đ/c Bộ đã trúng đạn hy sinh, còn lại một mình, đ/c Hải vẫn ngoan cường nổ súng chống trả… Hải suy nghĩ “thà trúng đạn chết như đ/c Bộ chứ nhất định không để chốt lọt vào tay quân Pôn Pốt”.

             Nghe tiếng súng nổ rền vang ngoài trận địa, kiểm tra lại thấy thiếu mất tổ tiền tiêu, đ/c Hồ Minh Sanh đã hạ lệnh toàn Tiểu đoàn nhanh chóng vận động trở lại trận địa cũ, găm đạn vào lũ quân Pôn Pốt đang bao vây 4 phía căn hầm của đ/c Hải. Bọn địch thấy lực lượng của ta xuất hiện đã vội vàng tháo chạy về bên kia biên giới.

            Đây là trận đánh đầu tiên của Trung đoàn ở mặt trận phía Tây Nam. Bọn địch đã bỏ lại 16 xác chết quanh khu vực này. Nhiều tên lính bị thương và xác chết chúng đã lôi về bên kia biên giới. Sau trận đánh này, đ/c Hải được điều về làm liên lạc cho đ/c Hồ Minh Sanh và được đề nghị tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất .

            Đ/c Hải quê quán tại Mỹ An, nhập ngũ vào cuối năm 1976 (đợt tôi nhận quân), hiện nay là chủ tiệm vàng Thanh Long, tại Thị trấn Mỹ Tho, huyện Cao Lãnh. Nói chuyện với tôi và đ/c Lê Minh Trí, đ/c Hải vô cùng xúc động bồi hồi nhớ lại những ngày tháng gian khổ, ác liệt, hy sinh… trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tại biên giới Tây Nam, nước mắt cứ tuôn trào khi nhớ lại đ/c Bộ (quê Thanh Hóa) - người đồng đội thân thương, người duy nhất đã hy sinh anh dũng trong trận đánh này…

 

(Còn nữa…)

LSV (g/th) 

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích