Hồi ký chiến trường_26/40 (VTK)

31/05/2016,15:06:53 | 3261 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG (BÀI 26)

---------------------------

PHẦN III - CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM

VŨ TRUNG KIÊN - CCB E207 

 

 

            Sau khi đánh chiếm căn cứ Đồng Tâm, Trung đoàn bộ về đứng chân tại xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Định Tường (cách căn cứ Đồng Tâm khoảng 5km). Những ngày đầu giải phóng thật là mới lạ với nhân dân trong vùng bị địch tạm chiếm. Từ những cụ già, các ba, các má, các chị, các em đều đã bị bọn tâm lý chiến nhồi nhét những tư tưởng và nhận thức rất lệch lạc về Quân Giải Phóng, nào là Việt Cộng uống máu moi gan, nào là Việt Cộng ở rừng ốm nhom 7 thằng đu không gãy 1 cành đu đủ… Vì vậy khi gặp bộ đội Giải Phóng nhân dân ai cũng đều “ngỡ ngàng” vì thấy chú nào cũng hiền lành đẹp trai, quân phục xanh ngời, sạch sẽ phẳng phiu… lại nói năng rất lịch thiệp…

            Chiều hôm đó, chúng tôi được lệnh vào đóng quân tại một khu dân cư nhà cửa rất đông đúc và sầm uất. Gặp chúng tôi xin mượn nhà nghỉ, mấy bác chủ nhà với nét mặt sợ sệt nói: “Dạ! Các thầy, các ông cứ tự nhiên ạ”. Nghe giọng nói đầy khép nép của các bác, các chú đáng bậc cha, chú mình, tim tôi lại quặn đau…Tôi vội đứng ra phân giải: “Các ông, các bà, các bác, các chú đừng gọi như thế. Chúng con chỉ đáng là tuổi con cháu, đừng dùng tiếng thầy, tiếng ông, tội lắm.”. Được lời, mấy người lớn tuổi mừng vui hớn hở: “Các cháu cho phép… Từ nay chúng tôi không gọi thế nữa. Ở đây lâu nay chúng tôi vẫn phải gọi các ông quốc gia  như vậy đấy”.

            Thấy “Việt Cộng” (quân giải phóng) ai cũng hiền lành không giống như lời đồn đại của bọn tâm lý chiến, các má, các chị, các em kéo đến đơn vị mỗi lúc một đông. Nhiều bà cụ đã bộc bạch: “Tụi bây đứa nào cũng đẹp trai mạnh khỏe, vậy mà  bọn lính quốc gia nó nói: Việt Cộng, bảy thằng leo một cọng đu đủ không gãy… nó còn nói tụi bay có lông, có đuôi… thật bây giờ… rõ ràng tụi nó toàn nói láo”. Đồng chí Mậu trung đội trưởng vô tuyến điện báo quê Thanh Hóa có tiếng nghịch ngợm, liến láu giành trả lời:

   “Dạ, thưa các má, các chị, tụi nó nói đúng đấy ạ! Chúng con cũng có đuôi đấy ạ! Mà đuôi chúng con ở đằng trước ạ!”. Tôi hoảng hồn… đưa mắt lườm đồng chí Mậu, cũng may các má chỉ cười, còn mấy chị, mấy em mắc cỡ nhìn đi chỗ khác…

            Đêm hôm ấy, 30/4/1975, hình như chúng tôi không ngủ. Hậu cần Trung đoàn vào thu chiến lợi phẩm trong căn cứ Đồng Tâm và cấp phát ngay cho bộ đội để ăn mừng chiến thắng: nào thịt hộp, đường, sữa, kẹo socola, thuốc lá Salem,… Có cả những khẩu phần ăn của bọn sĩ quan Mỹ còn để lại, hộp vuông 20x20 cm, cao 15cm, trong đó gồm có: bánh bích quy, pate, ca cao, một gói đường, sữa, cà phê, nước trái cây, một gói Salem 4 điếu, 4 kẹo caosu… Hai người chúng tôi chia nhau ăn một hộp, no và ngán tới tận cổ. Vậy mà bọn lính Mỹ trước đây, một thằng “tém” hết một hộp.

            8h, sáng ngày 1/5/1975, cô gái tên Thanh (con của gia đình chúng tôi ở nhờ) đến xin gặp tôi “tâm sự”. Tôi đồng ý. Rồi hai anh em đã trao đổi rất nhiều. Tôi giải thích chính sách của Đảng và nhà nước ta. Rồi tương lai của miền Nam cũng giống như miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sẽ khôi phục lại tất cả nền kinh tế, nền giáo dục, y tế… Nghe những lời giảng giải của tôi và thực tế tận mắt chứng kiến việc làm, hành động của những người chiến sĩ Quân Giải Phóng. Thanh đã hoàn toàn an tâm và nói với tôi: “Em có mấy đứa bạn nữ sinh thuộc trường đại học Mỹ Tho. Tụi nó sợ Việt Cộng vào giải phóng sẽ dùng kềm rút móng tay, móng chân của nữ sinh viên… Tụi nó sợ bỏ trốn vào vùng sâu. Để em vào kêu tụi nó trở về nhà…”.

            Thế đấy! Cái loa tuyên truyền của bọn tâm lý chiến… đội quân bán nước làm tay sai cho bọn quan thầy Mỹ thật độc địa!

            Khoảng gần giữa tháng 5/1975, căn cứ Đồng Tâm được bàn giao cho Quân khu 8. Bộ tư lệnh Sư đoàn 8 về đóng quân tại Cao Lãnh. Trung đoàn 207 về đứng chân tại huyện Chợ Mới, An Giang. Tiểu đoàn 1 đóng quân ở Lấp Vò, Tiểu đoàn 2 đóng quân ở Cù Lao Tây, Tiểu đoàn 3 đóng quân ở Cái Xoài. Nhiệm vụ chính của Trung đoàn là tiếp tục truy quét bọn tàn quân ngoan cố không ra trình diện, thu hồi vũ khí và chất nổ, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng còn rất non trẻ. Lúc này là chế độ quân quản nên hầu hết mọi công việc đều do quân đội đảm trách, vì thế chúng tôi rất vất vả trong những ngày đầu miền Nam mới giải phóng.

            Cuối tháng 5/1975 CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM bùng nổ. Ở Phú Quốc và Hà Tiên bọn Pôn Pốt đã xua quân sang xâm lược Việt Nam và giết hại rất nhiều dân thường. Trên toàn tuyến biên giới An Giang, Đồng Tháp, Long An chúng đã rải quân đột nhập lãnh thổ Việt Nam.

            Ngày 28/5/1975, Trung đoàn được lệnh hành quân lên biên giới và  dàn quân thuộc các huyện Châu Đốc, An Phú, Tân Châu. Nhiệm vụ của Trung đoàn là chốt chặn, bảo vệ vững chắc hành lang biên giới, ngăn chặn không cho lính Pôn Pốt vượt qua biên giới, cướp bóc, giết hại dân ta. Sở chỉ huy Trung đoàn đóng quân tại huyện An Phú cách Đồng Ki khoảng 4 km.

            Ngày 14/6/1975, đồng chí Hùng quản lý của C20 quê Hà Bắc, trong lúc đi mua thực phẩm về cho đơn vị, bất ngờ đã bị một cành cây gãy rơi trúng đầu và ngay đêm đó, đ/c Hùng đã tử vong.

            Trên mảnh đất mới giành được độc lập tự do, lần đầu tiên sau biết bao phen chôn vùi đồng đội vội vã giữa các trận đánh, chúng tôi được chứng kiến đám tang của đồng đội được tổ chức quy mô và hoành tráng  như vậy. Chiếc xe nhà binh GMC của Trung đoàn chở chiếc quan tài có 8 vệ binh bồng súng đứng 2 bên. Có hàng trăm cán bộ và chiến sỹ của Trung đoàn bộ, và trên 200 học sinh của trường trung học huyện An Phú đưa tiễn. Nhân dân ra đứng đông nghẹt hai bên đường tiễn đưa linh cữu đ/c Hùng và thảy lên xe tang rất nhiều hoa và nhang. Đ/c Hùng được mai táng tại một gò đất cách đường lộ 100m.

            Cuối tháng 6/1975, Trung đoàn bộ lại chuyển về đứng chân tại xã Tân An, Tân Châu, Tiểu đoàn 1 + 3 vẫn đóng quân tại vị trí cũ, Tiểu đoàn 2 về đứng chân tại xã Vĩnh Xương nằm sát biên giới Căm Pu Chia.

            Nhiệm vụ của Trung đoàn vẫn tiếp tục tuần tra, phòng ngự, ngăn chặn sự xâm lược của bọn Pôn Pốt - Yêng Sa Ry bảo vệ nhân dân vùng biên giới an tâm sản xuất. Nhờ có bộ đội chủ lực của ta hành động kịp thời nên bọn Pôn Pốt ở khu vực này chưa dám “ho he” do vậy nhân dân vùng này cũng tạm yên ổn làm ăn.

            Cuối tháng 8/1975, một tin tình báo quân sự cung cấp: Bọn tàn quân sẽ nổi dậy cướp chính quyền thuộc 3 huyện Chợ Mới, Thanh Bình, Phú Tân vào dịp Quốc khánh mùng 2/9. Đây là một vùng thánh địa và chính quyền rất non trẻ, trong kháng chiến khu vực này là vùng trắng.

            Ngày 27/8/1975, toàn Trung đoàn được lệnh “hộc tốc” từ biên giới quay về địa bàn cũ… Có hẳn một Trung đoàn chủ lực về đứng chân “dằn mặt”, nhờ vậy, dịp lễ Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1975 bọn tàn quân  không dám liều lĩnh (bọn này gồm 3 đại đội, sau này bị ta truy quét bắt sạch). Cùng thời gian này nhiệm vụ của Trung đoàn còn hỗ trợ chính quyền tổ chức học tập, cải tạo binh lính, ngụy quân và ngụy quyền thuộc chế độ cũ. C25 và một số cán bộ (trong đó có anh Hoàng Đăng Dĩ) được điều về thành lập đoàn 675 quản huấn bọn sĩ quan cấp úy quân Ngụy Sài Gòn tại căn cứ Trần Quốc Toản.

            Cuối tháng 12/1975, tôi được thông báo tập trung về Ban chính trị (lúc này anh Cư về làm chủ nhiệm) để chuẩn bị cho đợt đi phép đầu tiên của sĩ quan trung đoàn.

Mặc dù vẫn còn bộn bề công việc, nhưng Đảng, Nhà nước và Quân đội đã nghĩ đến việc cho bộ đội về thăm gia đình, quê hương. Điều này làm thỏa lòng bao cán bộ chiến sĩ chúng tôi, vì đã hòa bình gần 1 năm mà vì nhiệm vụ chúng tôi vẫn chưa có dịp về thăm lại cha mẹ, người thân… ”.

Chính sách được phổ biến công khai: “Ưu tiên người có thâm niên trong chiến trường: Trước hết là sĩ quan… đến hạ sĩ quan… rồi đến chiến sĩ”. Tôi được nằm trong danh sách nhóm số 1 và cùng đợt với tôi có anh Lợi, anh Vũ Nhụy, anh Tịch, anh Thái, anh Sản… Chúng tôi được xe của Trung đoàn đưa lên Sư đoàn sau đó xe Sư đoàn đưa  thẳng lên Binh trạm 1 tại thị xã Long Khánh, Đồng Nai.

5 giờ sáng ngày 24/12 xe của Binh trạm 1, loại xe Song Long 52 chỗ ngồi có 2 ống khói đưa chúng tôi ra Binh trạm 2. Rất nhiều các đơn vị đã được tập trung về đây nên mỗi đợt có đến hơn chục xe khoảng 500 – 600 người.

Đoàn quân ngược đường số 1 trở về Miền Bắc cũng rất dũng mãnh, tự hào, chẳng khác gì khi chúng tôi vượt Trường Sơn ra trận, chỉ có khác là trong chiếc balo căng phồng, ngoài quân phục đồng chí nào cũng có vài chiếc áo len, khăn len mua tại Sài Gòn đem về làm quà cho gia đình. Ngoài quân phục được cấp mới toanh, chúng tôi vẫn gây  ấn tượng nhất cho mọi người là chiếc quân hiệu gắn trên mũ có ngôi sao nửa xanh nửa đỏ “niềm tự hào của Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam đã trải qua cuộc chiến”. Ngay trong con mắt của mọi người nhất là nhân dân Miền Bắc vẫn luôn mến mộ những người lính lúc đó đội mũ gắn quân hiệu Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.

Chiều ngày 24/12, chúng tôi đã có mặt tại Binh trạm 2 (thuộc địa phận Quy Nhơn) và được ăn một bữa cơm theo tiêu chuẩn trung táo ( nghĩa là tiêu chuẩn ăn của sĩ quan theo định lượng của các đơn vị bộ đội Miền Bắc lúc bấy giờ).

Bữa ăn tương đối thịnh soạn, có cả rau xanh, thịt heo tươi sống, thịt gà và bột cá khô (một loại bột cá chiến lợi phẩm) làm tôi chạnh lòng nhớ lại lúc hành quân trên đường Trường Sơn, qua các binh trạm, khó khăn thiếu thốn trăm bề, 2 khẩu phần, 2 bữa ăn “1 trời – 1 vực” và cách nhau cả một tuổi thanh xuân…

Tối hôm đó, “báo hại” do ăn phải loại bột cá đã bị quá đát, Binh trạm đã “thưởng” cho cả đoàn quân về phép 1 trận đau bụng đi cầu…. Mấy chục cái cầu tiêu của trại gia binh lúc nào cũng đặc nghẹt lính ta. Anh Lợi là người “gan lỳ” nhất: “Bố cứ ở trong cầu tiêu không chịu ra, sợ ra rồi người khác chiếm mất chỗ”. Riêng tôi đêm hôm đó cũng bị “Tào Tháo rượt” đến 3 - 4 lần. Cũng nhờ các y bác sĩ kịp thời cho uống thuốc nên sáng hôm sau cũng tạm ổn.

Vậy là ngày 25/12 lúc 8h đoàn quân về Miền Bắc phải quyết định hành quân chậm so với dự kiến 3h .Trước khi hành quân các đ/c thuộc binh trạm đã  “kêu gọi” đ/c nào chưa thật hết bệnh thì ở lại Binh trạm tiếp tục uống thuốc…  nhưng chẳng  ai “dám” cho là mình còn bệnh. Vậy là 100% quân số lên xe thẳng tiến. Khi đoàn xe đang đi qua  một khu dân cư trên quốc lộ 1 (đoạn từ Quảng Ngãi đến Quảng Nam) thì  đ/c Phẩu người dân tộc thiểu số (thuộc Sư bộ) đi chung xe với tôi bất ngờ yêu cầu tài xế dừng xe … Hai bên đường nhà dân đông san sát thì làm sao chấp thuận được cái yêu cầu không đúng lúc này…  Bỗng nhiên đ/c Am (cũng là lính Sư bộ) liền ghé tai mách nhỏ …và đ/c Phẩu vốn tính “thật thà” vội nhổ sợi tóc se lại ngoáy vào lỗ mũi thực hiện “ mẹo chữa bệnh  đi tiêu chảy” do “ông” bạn quý vừa mách nước.

Sau một tiếng “hắt sì” thì ôi thôi cái “công sức” của đ/c Phẩu từ nãy giờ vẫn cố nín bỗng nhiên thành công cốc … cái đũng quần  ướt nhẹp… nước chảy theo hai ống quần xuống đôi giày đen … Một mùi khó tả … loang khắp xe … các cửa xe được vội mở hết cỡ … Đ/c Phấu mặt đuỗn ra  đứng “chết trân” ngay cửa xe lên xuống phía sau. Mấy chục con người  cố “nhồi nhét”dồn ra phía trước. Chúng tôi vừa buồn cười … vừa tức … vừa la lối ngậu xị … Ông bạn  chỉ “mẹo” trị bệnh bị mấy đ/c lớn tuổi “chửi” cho một trận nên thân rất hối hận, vội  phân giải: “Tôi chỉ nói chơi ai ngờ đ/c làm thật”…

Khi đoàn xe ra khỏi khu vực dân cư, đến đoạn trống có cái cống thoát nước của con mương nhỏ. Tài xế đã vội vàng cho xe dừng lại, chúng tôi xuống xe giúp bác tài  múc nước rửa … riêng đ/c Phấu “tặng” nguyên bộ quần áo đang mặc trên người và đôi giày đen cho con mương.

Khoảng 15 phút sau chiếc xe của chúng tôi lại bon bon lên đường … Quên đi tất cả! Quê hương đang vẫy chào phía trước!

Sau hơn 1 tháng của thời gian nghỉ phép, chúng tôi đã trở về đơn vị, lúc này vào khoảng đầu tháng 2/1976, toàn bộ đội hình của Trung đoàn đã hành quân vào Đồng Tháp Mười, vùng biên giới thuộc tỉnh Long An.

Sư đoàn 8 trong đó có Trung đoàn 207 có nhiệm vụ vừa bảo vệ biên giới, vừa xây dựng khu kinh tế quốc phòng: khai phá một vùng đát hoang hóa trong đó có cánh đồng “chó ngáp” trứ danh mà bộ đội đã vất vả hành quân từ CPC xuống chiến trường năm 1973. Bộ tư lệnh Sư đoàn đóng quân tại Thị xã Mộc Hóa và đã về trực thuộc Quân khu 9 (do hai Quân khu 8 và 9 sáp nhập thành Quân khu 9).

Do yêu cầu nhiệm vụ, Sư đoàn phải thành lập thêm 1 Trung đoàn vậy là Trung đoàn 207 điều gần 1/3 quân số cán bộ chiến sỹ thành lập 1 Trung đoàn mới mang tên Trung đoàn 5 (trong số này có anh Võ Be, đ/c Nhạc, đ/c Thuấn, anh Tư Công…). Anh Ba Trứ được điều về làm Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn, anh Năm Thời được điều về Ban tác chiến Quân khu.

Trung đoàn 207 còn lại được đổi tên thành TRUNG ĐOÀN 1 do anh Nguyễn Tấn Dẫu làm chính ủy, anh Tám Sơn (Nguyễn Hoàng Sơn) làm Trung đoàn trưởng, anh Lê Tựu làm Phó chính ủy.

Cuối tháng 9/1976, theo chỉ thị của Sư đoàn và Quân khu, Trung đoàn thành lập 1 khung (tương đương cấp tiểu đoàn) để nhận tân binh huấn luyện và tôi được chỉ định làm Chính trị viên, kiêm Chỉ huy trưởng.

Khung huấn luyện này có tới 12 đại đội (từ 1-12) và anh Phạm Hậu làm Chính trị viên Đại đội 9. Anh Mạnh (còn gọi là anh Mạnh khịt) làm Chính trị viên Đại đội 5, đ/c Ngân làm Chính trị viên Đại đội 7…

Đầu tháng 10. Khung huấn luyện  chúng tôi đã nhận đủ 2400 thanh niên của tỉnh Đồng Tháp và biên chế đều cho 12 đại đội về đóng quân từ xã An Bình cặp quốc lộ 30 đến  thị xã Hồng Ngự. Đoạn đường này dài gần 10km và Ban chỉ huy đóng quân ở trung tâm, cách Hồng Ngự khoảng 6km. Trong số tân binh kể trên có 3 cặp anh em ruột cùng nhập ngũ 1 ngày:

Đc Nghệ + Tùng ở xã An Phong

Đc Năm + Công ở xã Tân Thạnh

Đc Nam + Long ở xã Tân Long.

Sau gần 3 tháng huấn luyện , học tập quân sự, chính trị, cuối tháng 12/1976, toàn bộ 12 đại đội tân binh được điều về bổ sung cho 3 tiểu đoàn bộ binh cùng 9 đại đội trực thuộc, 3 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần của Trung đoàn (một số được bổ sung cho Trung đoàn 5) tiếp tục thực hiện nhiệm vụ vừa xây dựng kinh tế quốc phòng, vừa bảo vệ vững chắc vùng biên cương, biên giới Tây Nam Tổ quốc thuộc địa phận huyện Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Long An…

 

(còn nữa…)

LSV (g/th)

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích