Hồi ký chiến trường_21/40 (VTK)

31/05/2016,15:06:06 | 2550 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG (Bài 21)

VŨ TRUNG KIÊN – CCB TRUNG ĐOÀN 207

 

 

Bạn ta đó 
Ngã trên dây thép ba tầng 
Một bàn tay chưa rời báng súng, 
Chân lưng chừng nửa bước xung phong. 
Ôi những con người mỗi khi nằm xuống 
Vẫn nằm trong tư thế tiến công! 
Những đêm tiến công, những ngày phòng ngự, 
Có phải các anh vẫn còn đủ cả 
Trong đội hình đại đội chúng ta ? 

Khi bạn ta 
  lấy thân mình 
  đo bước 
Chiến hào đi, 
Ta mới hiểu 
  giá từng thước đất, 
Các anh ở đây 
Trận địa là đây, 
Trận địa sẽ không lùi nửa thước, 
Không bao giờ, không bao giờ để mất 
Mảnh đất 
Các anh nằm.

 

(Chính Hữu – Giá từng thước đất)

 

Từ cuối năm 1973 đến tháng 7 năm 1974. Trung đoàn bộ trung đoàn 207 vẫn cơ động đóng quân cặp biên giới thuộc 4 tỉnh Prâyven, Xoài Riêng (CPC), Kiến Phong, Kiến Tường (VN) trực tiếp chỉ huy 3 tiểu đoàn bộ binh và các đại đội trực thuộc tiếp tục đánh địch vừa tiêu hao sinh lực, vừa “nhổ” các đồn bốt xung quanh khu vực này mở rộng vùng giải phóng của ta cặp biên giới. Trong thời gian này ta đã đánh và tiêu diệt các đồn Thông Bình, Cà Vàng, Gò Da, Gò Bói, Cái Xơ, Cây Me, Cá Cái, Tham Bua giải phóng hoàn toàn xã Tân Thành và một phần xã Tân Hội Cơ, xã Tân Công Chí thuộc huyện Hồng Ngự.

Ngày 15/7/1974, một trận tao ngộ xảy ra giữa cánh đồng từ khu vực xã Tân Thành về hướng Tân Lèo.  Do không được cung cấp thông tin nên bộ đội ta đã lọt vào ổ phục kích của địch gần 30 đc đã bị hy sinh tại nơi đây …

Sau đó đúng 5 ngày vào ngày 20/7/1974, cũng tại khu vực này bỗng nhiên tụi địch đã bỏ lại 3 chiếc xe M113 còn nguyên vẹn và được đơn vị thiết giáp của quân khu thu chiếm bổ sung cho đơn vị của mình. Sau này chúng tôi mới biết là tên tỉnh trưởng tỉnh Kiến Phong đã lấy tiền của ta và đã lén bán 3 chiếc xe bọc thép này cho Quân Giải Phóng….

Thực tế trong chiến tranh bọn chỉ huy cao cấp của địch chỉ nghĩ đến “đồng tiền” còn mặc xác bọn cấp dưới: “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Cũng nhờ đó mà hậu cần của ta mua được rất nhiều vũ khí của địch, từ xe tăng, xe bọc thép, máy thông tin PRC25, súng đạn  và nhiều phương tiện chiến tranh khác…góp phần tăng thêm sức mạnh của ta trên chiến trường.

Do yêu cầu tác chiến ngày càng ở mức độ qui mô nên cuối tháng 7/1974. Bộ chính trị và quân ủy miền  QUYẾT ĐỊNH thành  lập sư đoàn 8 trực thuộc quân khu 8 do đc tư Thân làm sư đoàn trưởng và trung đoàn 207 được sáp nhập trực thuộc sư đoàn 8. Vậy là từ nay trở đi đài 15W của tụi tôi lại phải tiếp tục mở máy phát sóng 24/24 trực tiếp nhận các chỉ thị mệnh lệnh của bộ chỉ huy sư đoàn 8 và liên lạc vượt cấp với quân khu , bộ chỉ huy chiến dịch. Nghĩa là lính thông tin chúng tôi lại tăng thêm vất vả gấp 3 lần trước đó. Nhưng chúng tôi vui mừng lắm, vì từ nay Trung đoàn 207 không còn phải tác chiến độc lập nữa.

Ngày 29/7/1974, tôi và anh Năm Thắng được mời đi dự hội nghị quân chính do Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn triệu tập.

Một chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên: “toàn bộ sư đoàn 8 thọc sâu xuống chiến trường  miền Nam” được ban bố. Đây thực sự là một niềm vui làm nức lòng toàn thể cán bộ và chiến sỹ của sư đoàn…

Trở về đơn vị chúng tôi nhanh chóng tổ chức họp chi bộ và hội đồng quân nhân để quán triệt nhiệm vụ, trên nét mặt của từng càn bộ chiến sỹ ai cũng hồ hởi, phấn khởi. Mặc dù thời gian chưa biết chính xác nhưng chúng tôi suy đoán là sẽ không còn bao xa nữa…

Vậy là công tác chuẩn bị cho cuộc “dời đô” về quê mẹ được các đơn vị tiến hành rất khẩn trương. Thực phẩm quản lý mua về dự trữ cho đơn vị được lệnh “tém luôn” không để dành nữa. Kể cả tiền bạc mua bán trong dân phải được nhanh chóng thanh toán sòng phẳng. Quần áo , quân tư trang cũng được dần dần thay thế cho phù hợp với chiến trường sông nước đồng bằng sông Cửu Long  chằng chịt những kênh rạch và nước ngập lênh láng.

Bộ đội ta được cấp phát quần nilon dầu và áo Poliphăng (cũng chỉ bộ nghiêm bộ nghỉ)

Võng cũng bằng nilon dầu, mùng ngủ bằng mùng tuyn hoặc dù pháo sáng nhuộm xanh kết lại. Cả tấm đắp cũng bằng dù hoặc vải nilon  

Đặc biệt là cái balo cũ được trang bị của bộ đội chính quy từ ngoài bắc vào bằng vải bạt “nặng bỏ mẹ” bây giờ lính ta không ai dám xài nữa, nó vừa to, vừa dễ thấm nước. Vậy là hậu cần cấp phát “bồng”  (loại vải nhựa, mỏng nhẹ, nhưng không thấm nước và rất bền). Chỉ cần may vài đường chỉ giống như cái bao đựng lúa bây giờ. Làm một cái quai riêng giống như quai balo buộc vào 2 góc đáy còn ở trên túm vào cái cổ bồng là”quảy” đi một cách ngon ơ. Mà cũng chẳng cần kích cỡ gì. Ai muốn to thì làm to, ai muốn nhỏ thì tự mình may bớt đường chỉ lại.

Nói tới “bồng” tôi nhớ mãi hình ảnh của anh Tư Be (Võ Be) quê ở Bến Tre đi tập kết, tốt nghiệp Trường Sỹ Quan Lục Quân  rồi được điều trở lại chiến trường. Bữa đó hội nghị xong thời gian còn sớm nên tôi và anh Năm Thắng có mời anh Tư Be  về đơn vị tôi chơi. Tôi thực sự bất ngờ khi thấy anh đi họp từ tiểu đoàn lên trung đoàn ( có một đc liên lạc đi theo) mà “bồng bềnh” vẫn cứ nghiêm chỉnh. Đc liên lạc của anh (tôi không nhớ tên), cái bồng cũng vừa đủ, ngực mang bao xe đạn, vai khoác khẩu AK báng xếp. Còn anh tư Be thì “oai” hơn .Ngang lưng mang khẩu súng ngắn bao da còn mới cảo. Cái bồng của anh cực kỳ “vĩ đại”: nó vừa to, vừa cao…Tôi thầm thắc mắc: chả hiểu “cụ” này có gì trong cái bồng to cao kia… Ngoài cái bồng ra một bên tay xách cái thùng luộc (thùng đạn 12 ly 7) một bên là cái Ktap bằng da căng phồng…. Một lát sau đc Dần chính trị viên C25 cũng ghé thăm chúng tôi. Anh năm Thắng pha một ấm trà của hậu cần mới phân phối và nói với anh nuôi làm thịt  gà…. Nhưng anh tư Be và đc Dần cản lại nói “chỉ  ghé thăm chúng tôi một chút rồi trở về đơn vị ngay”…. Trong cánh “bằng vai phải lứa” tụi tôi với nhau thì đc Dần thuộc loại “lý lắc” nhất ... Chờ lúc anh tư Be “chủ quan” không để ý nên đồng chí Dần đã “lén” mở cái bồng và đổ hết đồ đạc ra, mở cả cái thùng luộc và cái cặp da nữa. Đc Dần vội la toáng lên: “ôi của chìm…của nổi… sao mà nhiều thế”…. Đồ đạc nhà binh do hậu cần cấp phát thì ít… còn đồ đạc loại”khơi khơi” thì nhiều…. Có cả quần áo của chị em phụ nữ mới “tuyệt vời” chứ. Anh Tư Be nổi quạo, cự nự lung tung… Anh Năm Thắng không “nhịn” được cũng phải lên tiếng. “Cha! bỏ bớt đi cho con  nhờ … đi đánh giặc mà thồ “hàng” chẳng khác gì con lạc đà. Có ngày chạy không kịp bọn địch nó vớ được chắc chắn tụi nó thiến…”. Thì ra trong lúc đánh đồn Gò Da, bọn địch bỏ chạy hết, anh tư Be chỉ huy bộ đội vào thu chiến lợi phẩm và không bỏ sót bất cứ một thứ gì…Cũng nhờ “vụ lộ hàng” lần ấy mà sau này gặp lại anh Tư Be  tôi nhìn thấy “cái bồng của anh đã nhỏ đi rất nhiều”. Giờ ngồi nhớ lại mới thấy thương đồng đội tôi quá đỗi!

Sáng ngày 1/8/1974, tôi và anh năm Thắng thật bất ngờ và vui mừng không sao tả siết,khi nhìn thấy chị Hai Nhị (Trương Thị Thắm) dẫn 2 cháu Phương và Tài đến tận đơn vị thăm chúng tôi. Hỏi ra tụi tôi mới biết đơn vị của chị (an ninh khu) đang đóng quân tại gần chùa Praynhiết, chỉ cách chúng tôi khoảng 4km. Chị tâm sự với chúng tôi: “Nghe lời khuyên của tụi bay và gia đình nên sau khi trung đoàn 207 chuyển quân chị quyết định trở về đơn vị cũ nơi mà ngày xưa anh và chị công tác gặp nhau. Khi anh hy sinh, một mình chị nuôi 2 đứa con còn quá nhỏ mà lại không muốn làm phiền lụy cho đơn vị nên chị xin tạm nghỉ về gia đình “tá túc” nuôi con, bây giờ các con của chị đã lớn. Với lại chị nghĩ chắc chắn chiến tranh sắp kết thúc rồi mình phải có mặt trong trận đánh cuối cùng chứ...”.

Nghe chị tâm sự, nhìn khuôn mặt của chị buồn buồn nhưng rất đẹp. Chị mặc bộ quần áo bà ba đen và cái nút thứ 2 trên ngực cài một miếng vải trắng (chị vẫn để tang chồng).

Tôi và anh năm Thắng “khen” chị giỏi. Đúng là cánh an ninh nhạy thật. Chúng tôi cũng chỉ mới được phổ biến sơ sơ chuẩn bị “xuống đường” vậy mà chị cũng đã biết… “mày mò” tìm kiếm thăm đơn vị  (đại đội thông tin trung đoàn 207) bởi chị đã coi tất cả những anh em trong đơn vị như những đứa em ruột thịt… Bữa cơm hôm đó bộ phận nuôi quân rất chu đáo có cả thịt gà và cá lóc (cá chuối,cá quả) hấp lá bầu, thịt heo xào mặn... Giữa chiến tranh,  mất còn trong gang tấc, nhìn chị và 2 cháu ăn cơm cùng với bộ phận C bộ, chúng tôi thấy “ấm cúng” hẳn lên, cũng lại ngậm ngùi thương chị và 2 cháu vô cùng…”(Hiện giờ chị đã nghỉ hưu và đang sinh sống tại Sa Đéc, thỉnh thoảng gặp dịp tôi vẫn ghé thăm chị)

Đúng 5h chiều ngày hôm đó, tôi và anh Năm Thắng cùng 2 đc liên lạc tiễn chị và 2 cháu về tới tận đơn vị (gần chùa Pray Nhiết), cháu Phương đã lớn, cháu Tài còn nhỏ nên đi bộ mỏi chân, chốc chốc anh Năm Thắng lại cõng cháu Tài trên lưng, cảnh vật thanh bình như trên quê nhà không còn khói súng….

Ngày 2/8/1974, cơ quan trung đoàn bộ và các đơn vị trực thuộc được lệnh hành quân. Vì đã có ý thức từ trước nên chúng tôi dọn dẹp rất chu đáo. Quân tư trang thì rất gọn nhẹ, vũ khí, đạn dược, máy móc lại được bổ sung (Mấy cái máy PRC25 cũ ọp ẹp chúng tôi cho ra rìa hết và thay thế bằng những loại máy mới) Nhờ sự chi viện của thông tin sư đoàn và quân khu.

Khoảng 8h tối chúng tôi đã có mặt tại kinh 28 (gần khu vực Tà Nu) và cứ từ 8 – 10 đc được xuống 1 chiếc xuồng tam bản (loại xuồng ba lá lớn ) có các đc giao liên phụ trách. Trong đêm tối hành quân bằng xuồng, dọc theo bờ kênh và băng ngang cánh đồng nhiều đoạn vướng cỏ và lúa là tất cả phải nhảy xuống đẩy xuồng vượt qua…Đến 2h sáng, thì đoàn quân xuống hành quân bộ, đoàn quân được giao liên dẫn đường len lỏi qua những đám tràm., qua những bờ ruộng tiến về phía trước... Khoảng 4h sáng tôi gặp anh Bảy Việt có một đc y tá và một liên lạc mang ba lô dùm , anh cứ đi cà nhắc, cà nhắc nhìn rất tội nghiệp, hỏi thăm đc y tá tôi mới biết anh bị bệnh thấp khớp, 2 đầu gối sưng vù mà vẫn ráng hành quân xuống đường cùng đơn vị.

Sau 2 đêm hành quân chúng tôi đã vượt qua sông Vàm Cỏ rồi qua kinh Bùi, kinh Bích, kinh Tẻ và đóng quân tại  kênh Chuối cách bờ bao Mỹ Hòa khoảng 4km (kinh, rach ở đây rất nhiều và chằng chịt).

Giữa tháng 9 năm 1974, lúc này bộ đội ta đã được trang bị xuồng ba lá để làm phương tiện đi lại (loại xuồng có sức chở từ 3 – 5 người. Đại đội thông tin chúng tôi được trang bị tới gần 30 chiếc, cứ bình quân 3 người một chiếc.). Vậy là bộ đội ta phải nhanh chóng học tập cách bơi, cầm lái, chống xuồng. Những ngày đầu chiếc xuống nó giống như những con ngựa bất kham.. cứ quay vòng vòng đâm vào bờ nọ lạng qua bên kia, nhiều đc còn bị xuồng lật úp mình mẩy ướt nhẹp. Đã vậy ở đây trong các kênh rạch và cả trong các đám tràm, nước trong vắt do bị nhiễm phèn, ở độ sâu khoảng 2m là vẫn nhìn rất rõ tới tận đáy kênh hoặc các rễ tràm. Bộ đội ta cứ quen thói sợ bị ướt quần lót, nên khi tập thường “khỏa thân toàn tập”…bất ngờ mà gặp các chị em đi ngang qua là coi như “toi đời”...chả giấu diếm “gì” được cả…

 Sợ nhất vẫn là cái nạn đi cầu (đi ỉa). Bởi xung quanh toàn ngập nước nên mỗi khi “có nhu cầu” là phải chống xuồng xa vài trăm mét. Sau khi “bĩnh” ra… chỉ một thời gian rất ngắn là các chú cá nào là cá rô, cá chốt, cá sặt… bu đến “làm vệ sinh” ngay nên chẳng cần phải sợ làm ô nhiễm môi trường.Tuy nhiên, lính ta dễ gặp nạn “ngã xuồng” như chơi….

Bữa đó tôi và đc Tốt (liên lạc của đại đội thông tin), hai anh em bơi xuồng cũng cách nơi đóng quân khá xa để làm cái công việc “cần thiết” ấy. hai anh em ngồi nghiêng qua một bên be xuồng, tay với nắm những bụi cỏ trồi lên trên mặt nước để giữ thăng bằng. Lính quýnh thế nào đc Tốt tuột tay ngã nhào xuống nước. Chiếc xuồng “chồng chành” nhưng may tôi vẫn gượng được không bị ngã và với tay nắm kéo đc Tốt lên. Tôi thật “ấn tượng” khi nhìn đc Tốt ướt như chuột lộị lóp ngóp leo lên được xuồng mà trên cổ vai đc khoác nguyên “một đoạn…” mà chính của đc vừa mới “bĩnh” ra. Tới bây giờ nhớ lại tôi vẫn còn thấy ớn ớn, nổi cả da gà….

2h chiều ngày 2/10/1974, sở chỉ huy trung đoàn bất ngờ bị hàng trăm quả đạn pháo của 2 trận địa Mỹ An  bắn phá. Sau gần 1h phải chui hầm tránh pháo, tiếng pháo đã dứt tôi chui lên khỏi mặt hầm, xuống bờ kênh rửa mặt và thật đau lòng khi nhìn thấy chiếc xuồng của ban chính trị  đang bơi tới Trên xuồng có đc Hoàng y tá cầm lái, đc Hùng họa sỹ (2 đc này đã ở cùng tôi từ năm 1971) , và đc Thoại của cơ quan tuyên huấn ( đ/c Thoại thay cho tôi khi tôi xuống đơn vị). Đc Thoại bị một mảnh pháo phạt cụt mất bàn tay trái, một mảnh làm gãy xương đùi. Cả 2 đc Thoại và Hùng, mặt mũi đều bê bết máu (đc Hùng ôm đc Thoại trong lòng…). Đc Thoại được đưa vào  trạm phẫu thuật của sư đoàn  do BS Phủ phụ trách chỉ cách đó không đầy 1km.và Đ/c Thoại đã hy sinh tại đây vì mất quá nhiều máu…Cho đến bây giờ khuôn mặt cùa Thoại,Hùng ,Hoàng vẫn còn như in trong tâm trí tôi :Thọai quê Nghệ An,có giọng nói rất ấm…Hoàng quê Hà Bắc…Hùng quê Lạng Sơn có khuôn mặt phúc hậu và rất hiền…( nghe tin Hùng đã hy sinh năm 1979 tại cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc) Bây giờ nếu được gặp Hùng và Thoại ở bất cứ trong đám đông người nào, tôi cũng sẽ nhận ra ngay …Nhưng đồng đội tôi đã vĩnh viễn  trở thành người “thiên cổ”…Viết tới đây,tim tôi lại quặn đau, ngực như nghẹn thở…Ngày ấy, bao đồng đội thân yêu của tôi cứ lần lượt “ra đi”…Và chẳng biết bao giờ mới hết chiến tranh để chúng tôi thôi ngã xuống, chợt nhớ lại câu nói của anh Thiệp vào đầu năm 1971 khi tôi có quyết định từ đại đội 6, tiểu đoàn 2 về cơ quan tuyên huấn trung đoàn “Em về được  chỗ đó là coi như ấm được cái gáo rồi”…rồi lại nhớ ngày bàn giao cho đc Thoại vào tháng 8/1972 (khi tôi có quyết định về đại đội 19 công binh ) giọng đc Thoại rất ấm và đầy truyền cảm “Kiên cứ yên tâm trở về đơn vị chiến đấu… Thoại hứa sẽ cố gắng để đưa cơ quan tuyên huấn của chúng ta ngày càng tiến bộ ,vươn lên…”. Giờ đây lại chính là anh ấy đã hi sinh. Thế đấy, chúng tôi là đồng đội. Chúng tôi “ THẾ CHỖ CHO NHAU” người còn…người mất.. .trong cuộc chiến  vô cùng khốc liệt…không ai có thể đoán trước được điều gì…Nôn nao nhớ mấy câu thơ của nhà thơ Chính Hữu:

 

“Đồng đội ta

Là hớp nước uống chung, nắm cơm bẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng một chiều mưa

Chia khắp anh em một mẩu tin nhà

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.”

 

Ngày 4/10/1974 tại sở chỉ huy trung đoàn cụm đài 2W gồm 4 máy, liên tục nhận những thông tin từ tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 báo về và truyền đi những mệnh lệnh của đc Năm Thời trung đoàn trưởng và đc Ba Trứ chính ủy. Chúng tôi biết tình hình trận địa tiền duyên rất căng thẳng. Tiểu đoàn 1 + tiểu đoàn 3 đang chiến đấu phòng ngự đánh địch tại bờ bao kênh Mỹ Hòa, địch dùng cả xe bọc thép M113, 2 trận địa pháo Mỹ An  bắn như vãi đạn vào trận địa D1 và D3. hỏa lực của trung đoàn gồm cối 82, DKZ75 được lệnh bắn chi việc cho 2 tiểu đoàn ( Các bạn có thể xem các bài viết của Hồ Tĩnh Tâm CCB E207 về trận đánh chống càn tại bờ bao Mỹ Hòa đã  đăng trên trang web 207)

Sau gần 20 ngày liên tục chiến đấu với trung đoàn 10, sư đoàn 7 quân ngụy Sài Gòn, có xe tăng, xe bộc thép, máy bay yểm trợ, ta vẫn giữ vững trận địa. Địch vẫn không thể nào chiếm nổi bờ bao  Mỹ Hòa, ngày 21/10/1974,  sư doàn 7 quân ngụy Sài Gòn đã phải lặng lẽ lui quân.

Vậy là tại trận đánh chống càn tại bờ bao Mỹ Hòa - Đồng Tháp Mười, trung đoàn 207 đã đánh thiệt hại nặng, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của sư đoàn 7 quân ngụy Sài Gòn ,giữ vững vùng  căn cứ cách mạng của quân khu 8, giáp ranh 3 tỉnh, Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch…làm cho bọn địch xung quanh khu vực này hoang mang tột độ…

 

(còn nữa…)

LSV (g/th) 

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích