Hồi ký chiến trường_18/40 (VTK)

31/05/2016,15:05:05 | 6073 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG (Bài 18)

VŨ TRUNG KIÊN (CCB E207, QK8)

 

 

 “Ta sẵn sàng xé trái tim ta
 Cho Tổ quốc, và cho tất cả
 Lá cờ này là máu là da
 Của ta, của con người, vô giá.

 ……….

 Việt Nam ơi, máu và hoa ấy

 Có đủ mai sau, thắm những ngày ?...”

( Tố Hữu – Việt Nam Máu và Hoa )

 

      Ngày 27/01/1973, hiệp định Pari chính thức được ký kết.

     Cách Cầu Muống khoảng 1km địch đã điều 1 tiểu đoàn địa phương quân tiểu khu Kiến Phong đến đóng chốt  tạo thành điểm “khóa đầu” ranh giới giữa vùng giải phóng của ta và vùng tạm chiếm của địch. Bộ đội địa phương huyện Hồng Ngự do anh Năm Thành huyện đội trưởng chỉ huy được giao nhiệm vụ chốt chặn tai đây.

   Ngày 6/2/1973 đ/c năm Thành đi kiểm tra trận địa tại chốt khóa đầu và đã lọt vào ổ phục kích của địch rồi hy sinh tại đây.Bọn giặc “đểu cáng”đã giấu xác đ/c năm Thành,không cho ta lấy.Cuối cùng ta phải dùng vũ lực “Hăm dọa” chúng mới chịu trả thi thể đ/c năm Thành và được anh bảy Cường (lúc đó là y sỹ quân dân y Hồng ngự) trực tiếp khám nghiệm tử thi. .(đ/c năm Thành bị 1 viên đạn nhọn của địch bắn trúng tim rồi hy sinh ngay).Sau 30/4/1975 anh bảy Cường được điều về công tác tại huyện Phú Tân tỉnh An Giang với cương vị tỉnh ủy viên-Bí thư huyện ủy.Với 2 nhiêm kỳ anh đã cùng ban thường vụ huyện ủy đưa ra nhiều chủ trương đúng đắn xây dựng quê hương Phú Tân thêm giàu đẹp xứng đáng là 1 huyện trọng điểm của cả nước .Gần đây anh làm sui với anh sáu Hân và con rể của anh là cháu Thắng Lợi (sẽ kể lại ở phần sau) Đặc biệt vợ của anh Bảy là một nữ cán bộ “Nòi”. Chị là huyện ủy viên huyện Hồng Ngự lúc mới 20 tuổi và khi trung đoàn 207 chiến đấu tại cù lao Long Khánh 31/10/1972 chị đang làm bí thư chi bộ xã Long Thuận. Hiện nay anh chị đã nghỉ hưu và đang sinh sống tại quê hương thứ 2 (huyện Phú Tân) Tuy đã hơn 70 tuổi anh chị vẫn còn rất khỏe và “nhiệt huyết cách mạng”lúc nào cũng cháy bỏng trong con người của 2 vị “Lão thành cách mạng”.Anh chi vẫn là một “chỗ dựa”vững chắc của Đảng bộ,chính quyền và nhân dân huyện Phú Tân...

    Lúc này vùng giải phóng của ta nối dài liên hoàn từ Cầu Muống, Cầu Đại, Cầu Tiểu, Cái Sách dọc sông Sở Thượng tới tận Hồng Sa.Cả một dải đất dài mấy chục km rợp cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam. Nhân dân khắp nơi kéo về cất nhà dọc 2 bên sông, xuồng ghe đậu san sát. Đồn Cái Sách được sử dụng làm nơi họp chợ, tưng bừng, náo nhiệt. Nhân dân lần đầu tiên được xem bộ phim NỔI GIÓ của Đào Hồng Cẩm (rất ấn tượng). Tinh thần cách mạng của đồng bào càng thêm sâu sắc. Nhiều người đã vào vùng địch tạm chiếm vận động con em và binh lính bỏ hàng ngũ địch trở về với cách mạng.

      Khi ấy, trong không khí rộn ràng thắng lợi, các tài năng nghệ thuật của Trung đoàn được dịp thăng hoa, đ/c Phan Xuân Thi ( hiện là trưởng ban LL bạn chiến đấu E 207) liên tiếp “trổ  tài” năng khiếu của mình khi trung đoàn tổ chức những đêm văn nghệ quần chúng phục vụ nhân dân và bộ đội. Bởi có ưu thế giọng rất “ấm”và được luyện giọng ngâm thơ ngay từ lúc mới 14 tuổi do đó  Phan Xuân  Thi đã có giọng thơ chẳng thua kém gì các nghệ sỹ chuyên nghiệp.Bài thơ “Bầm ơi” của nhà thơ Tố Hữu mà Phan xuân Thi ngâm trong một  đêm văn nghệ tại Cái Sách làm bao nhiêu cán bộ chiến sỹ và nhân dân cảm động và ngưỡng mộ, khiến biết bao cô gái thầm thương trộm nhớ những chàng trai E207 oai hùng và lãng mạn… Hiện giờ Phan Xuân Thi là nghệ sỹ ngâm thơ của Đài truyền hình thành phố HCM và đã có gần nghìn bài thơ trong các CD. Anh chính là đại diện cho hình ảnh tiêu biểu về người chiến sĩ Giải phóng quân thuở ấy: Một thế hệ “tài hoa ra trận”.

      Cuối tháng 2/1973 Sở chỉ huy trung đoàn dời về đóng quân bên kia sông sở Thượng ngang đồn Cái Sách. Đại đội thông tin chúng tôi cũng ở gần sở chỉ huy trung đoàn (cách trạm Kinh Tài của tỉnh Kiến Phong khoảng 100m).

      Huyện ủy Hồng Ngư gồm có chú bảy Trọng bí thư huyện ủy, chú ba Lê Hiếu thường vụ huyện ủy, chú hai Thanh Hùng thường vụ huyện ủy, anh Tư Thôi thường vụ huyện ủy, anh hai Hung (còn gọi là cụt Hung vì bị thương cụt hết 1 tay). Thường vụ huyện ủy cũng dời về nằm cạnh sở chỉ huy trung đoàn.Thời gian này bọn lính sư 7 và sư 9 của quân ngụy Sài Gòn đã “lảng vảng”ở khu vực Tân Châu ,Hồng Ngự. Bộ chỉ huy chiến dịch của ta đã tăng cường thêm 1 trung đoàn  của sư 5 và 1 trung đoàn của sư 9 cho khu vực này  phối hợp với trung đoàn 207 (mặt trận lúc này vô cùng khẩn trương và sôi động)

      Đại đội cối 82 (16) được bố trí trận địa gần Cái Sách để có thể bắn chi viện nếu địch liều lĩnh dùng máy bay trực thăng đổ quân vào hậu cứ của ta. Lực lượng an ninh của tỉnh Kiến Phong cũng được dời về ven sông Sở Thượng để làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an ninh vùng dân cư ta mới giải phóng.

       Đc Võ Hoài Việt nguyên giám đốc công an tỉnh Đồng Tháp, và hiện nay là thiếu tướng tổng cục phó Tổng cục An ninh Bộ Công an, lúc đó là cán bộ an ninh tỉnh Kiến Phong thường tới lui trung đoàn, để quan hệ công tác, và rồi anh kết bạn thân “chí cốt” với đc Giải đại đội trưởng đại đội 16 của trung đoàn. Sau này có lần đc Võ Hoài Việt tâm sự với tôi: “Lúc trung đoàn 207 và lực lượng quân khu về giúp tỉnh Kiến Phong giải phóng hàng loạt đồn bốt dọc sông Sở Thượng. Chúng tôi thực sự sung sướng quá. Xưa nay cánh an ninh chúng tôi chỉ được trang bị súng nhỏ nên bọn địch nó coi tụi tôi “chẳng ra gì”. Tôi kết bạn thân với đc Giải lâu lâu anh em thăm nhau mời nhau nhậu cho vui. Đc Giải dẫn đi xem trận địa pháo toàn súng bự tôi “khoái” quá và suy nghĩ rằng: “Chỉ có bộ đội chủ lực của ta mới đủ sức QUẬT GỤC quân chủ lực Việt Nam cộng hòa. Mà thực tế đúng là như vậy”. Thế đấy, tình người trong chiến tranh đơn giản mà vĩ đại vô cùng. Mỗi người sống bình dị khiêm nhường, nhưng khi vào trận sẵn sàng chia nhau đến giọt máu cuối cùng!

      Đầu tháng 3/1973 Tiểu đoàn 2 đóng quân quanh khu vưc cầu Đại làm nhiêm vụ chống địch lấn chiếm. Đối phương cũng có một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 15 sư 9 quân Ngụy Sài Gòn án ngữ ngay sát nách tiểu đoàn 2. Đại đội 5 thuộc tiểu đoàn 2, lúc này do đc Phan Xuân Thi làm chính trị viên, tiếp giáp và đối mặt trưc tiếp với tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 15 , sư đòan 9 ngụy do đại úy Hùng làm tiểu đoàn trưởng.

      Đc Phan Xuân Thi quê gốc Quảng Bình nhưng học ở Hà Nội từ khi còn nhỏ. đang học năm thứ hai, khoa văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và được lệnh nhập ngũ vào chiến trường.

      Ngày 4/03/1973 trong lúc đang chỉ huy đơn vị phục kích, phòng ngự tại gần Cầu Đại, thì Phan Xuân Thi phát hiện bọn lính sư đoàn 9 “mò” vào hòng lấn chiếm trận địa của ta., đc Thi ra lệnh cho bộ đội ta sẵn sàng nổ súng “ nghênh tiếp”. Bất ngờ tên đại úy Hùng tiểu đoàn trưởng la lớn: “Đã ngừng bắn rồi 2 bên không được nổ súng” và yêu cầu được gặp mặt với vị chỉ huy của ta. Đc Thi vội xuống hầm lục ba lô lấy một bộ quân phục mới nhất mặc ngay vào, rồi hiên ngang tiến tới “đường biên” đối thoại với tên đại úy Hùng. Chỉ sau 1 giờ “khẩu chiến”, với lý lẽ sắc bén và chính nghĩa của người chính trị viên từng học Văn - ĐH TH Hà Nội, tên đại úy Hùng đã tự nhận ra: “Sĩ quan của chúng không thể là đối thủ của cán bộ Quân Giải Phóng” và từ đó về sau tên này “cạch mặt” không dám huênh hoang và lặng lẽ lui quân. Nhờ đó, trận địa 2 bên êm đềm được một thời gian ngắn.

       Đến cuối tháng 3/1973, lúc này bọn sư đoàn 9 + sư đoàn 7 ngụy đã bắt đầu “giở trò”, chúng chia quân làm nhiều mũi lấn chiếm vùng ta kiểm soát tại khu vực Thường Phước. Tiểu đoàn 2 - E207 lại được lệnh hành quân chặn đánh địch và cuộc giao tranh ác liệt đã xảy ra tại cầu ván Mương Kênh.

       Trung đoàn 15 sư đoàn 9 quân Ngụy Sài Gòn có xe bọc thép, pháo binh và máy bay yểm trợ đã hùng hổ tiến vào trận địa phục kích của tiểu đoàn 2, cả tiểu đoàn  đã anh dũng chiến đấu đánh lui nhiều đợt tấn công của địch.Với quân số đông hơn nên bọn lính sư 9 rất liều lĩnh. Một tốp lính mấy chục tên đã bí mật bò gần sát hầm trận địa ta chỉ còn cách dộ hơn chục mét.Chúng điên cuồng dùng lựu dạn ném vào trận địa .Một quả lựu đạn đã rơi trúng hầm của đ/c Thi và 1 chiến sỹ tên là Hùng (lựu đạn rơi sát chân Hùng.) Ở đầu hầm bên kia (loại hầm chữ Z)Đ/c Thi vội hét lên “Bốc ném lựu đạn ra ngoài” Đ/C Hùng đã kịp chụp quả lựu đạn đã nóng bỏng ném lên khỏi miệng hầm thì lựu đạn nổ tung (Thi và Hùng cái chết chỉ còn trong gang tấc) Hiên nay Hùng đang sinh sống tại Mỹ Tho và Thi và Hùng ngày 27/7/2012 gặp nhau tại Đá Biên (Hai người ôm nhau ,nước mắt lưng tròng) Chúng tôi cũng không ai cầm được nước mắt chứng kiến “Hai đồng đội tưởng như không thể nào còn sống…”của trận đánh ác liệt và giây phút hiểm nguy…

    Sau khi “thoát chết”Thi và Hùng cùng đồng đội tiếp tục chiến đấu .Chính trị viên Phan Xuân Thi đã dũng cảm sử dụng khẩu B40 của đồng đội bắn cháy 1 xe bọc thép M113.  Tám tên giặc trong xe đều bị cháy đen thui. Đạn trong chiếc xe này nổ liên tục trong 3 tiếng đồng hồ mới dứt, khiến bọn giặc không dám liều lĩnh tấn công nữa. Qua trận đánh này đc Thi được đề nghị tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng 2.

     Chiến tranh dẫu có khắc nghiệt biết bao nhưng cuộc sống vẫn có tiếng nói riêng của nó.Giữa bom đạn bời bời, những trai tài gái sắc của nước Việt Nam vẫn yêu nhau và cùng nhau xây tổ ấm trong lửa đạn quân thù. Một câu chuyện về tình yêu như thế đã xuất hiện ở Trung đoàn 207 TRUNG DŨNG KIÊN CƯỜNG. Trong cuộc họp chi bộ ngày 05/4/1973 của đại đội thông tin do tôi làm bí thư chủ trì sau gần 4h bàn bạc, công việc của đơn vị đã xong, thì đc Năm Thắng đại đội trưởng kiêm phó bí thư chi bộ bất ngờ có ý kiến và kèm theo một đơn xin cưới vợ.

     Người bạn đời đc định kết hôn là cô Út Dúng em ruột của chị Năm Phượng (còn có tên là Năm Nết). Chồng chị Năm Phượng là anh Ba Hẩm thủ trưởng cũ của đc Năm Thắng đã hy sinh để lại một đứa con khoảng 5 tuổi tên là Thắng Lợi. Khi anh Ba Hẩm còn sống đã có ý định mai mối giới thiệu em vợ cho người đồng đội “thân tín” của mình. Xin kể sơ qua về mới liên hệ họ hàng của cô Út Dúng, cô dâu tương lai của Trung Đoàn: Anh Ba Hẩm là anh ruột của đc Sáu Hân nguyên là chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Má chị Năm Phượng là em ruột má chị Hai Nhị (Trương Thị Thắm). Chồng chị Hai Nhị phó ban an ninh khu hy sinh năm 1968 để lại 2 đứa con là Phương và Tài. Chị Hai Nhị sau khi hòa bình là trưởng phòng cảnh sát kinh tế công an tỉnh Đồng Tháp rồi chuyển ngành qua làm giám đốc công ty du lịch tỉnh Đồng Tháp. Chị Hai Nhị có mấy người  em: chị Tư Bê, chị Sáu Hoàng, cô Tám Hà, chú Mười Toại và cô Út Nguyện . Đây là một đại gia đình cách mạng. Sau này tất cả mọi người đều trở thành “người nhà” của 207.

       “Nguyện vọng” của anh năm Thắng được chi bộ chấp thuận và tôi trực tiếp báo cáo với anh Lê Chư bí thư Đảng ủy kiêm chính ủy Trung đoàn 207. Anh Lê Chư ủy quyền cho tôi gặp gia đình chị Út Dúng trước rồi báo cáo cho Đảng ủy Trung đoàn.

         Ngày 09/04/1973, tôi và anh Năm Thắng đến nhà chị Năm Phượng nằm sát bên sông Sở Thượng gần cồn Cò dưới sông là một chiếc ghe (cũng của gia đình chị Năm ). Tôi báo cáo với gia đình về nguyện vọng của anh Năm Thắng và được sự ủy quyền của Đảng ủy trung đoàn đến xin phép gia đình cho 2 anh chị được tiếp tục tìm hiểu. Má, Út Dúng, chị Năm Phượng mừng vui như “tết”. Chị Hai Nhị nhà cách đó vài trăm mét nghe tin cũng chạy tới để “chiêm ngưỡng” hình dáng em rể tương lai

       Chị Năm Phượng thịt ngay con vịt để thết đãi tôi “người đại diện cho đơn vị” và anh Năm Thắng. Việc cưới vợ của anh Năm Thắng coi như đã thuận lợi mọi bề. Từ đó trở đi tôi và anh em trong đơn vị nghiễm nhiên coi 2 gia đình như là chỗ thân tình. Và 2 chị như những người chị ruột, coi Thắng Lợi, Phương, Tài như những đứa cháu THÂN THƯƠNG của đơn vị (tội nghiệp, Ba các cháu  đều đã hy sinh vì cuộc chiến đấu giải phóng Dân tộc). Thỉnh thoảng 2 chị lại đưa các cháu đến đơn vị chơi và ngược lại có điều kiện là chúng tôi đến thăm các má, các chị,các cháu..

        Ngày 20/4/1973, tôi ghé cụm đài máy 2W (một loại máy liên lạc vô tuyến) tại sở chi huy trung đoàn ngay cạnh căn nhà anh Bảy Thàng và anh Lê Chư đang ở.  Anh Năm Thắng đã “đeo bám” nơi đây gần chục ngày nay. Bốn đc thông tin 2w trực ở cụm đài này nhưng anh Năm Thắng vẫn giành cầm tổ hợp, giọng nói cứ oang oang:

            “Đ..m… Mày chuyển gấp ngay công điện này cho máy bên kia, mày mà chậm trễ là cả sếp mày và mày cũng cho đi vùng 1 luôn…”

Đầu máy bên kia giọng nói rặt Nam Bộ:

            “Dạ…sếp cứ yên tâm…chúng em sẽ chuyển ngay ạ…”

            Tôi thấy “lạ” nên vội vặn hỏi, anh Năm liền báo  lại:

            Tiểu đoàn 1 nằm ở cự ly quá xa đáng lẽ phải bố trí một máy T139 ở ban chỉ huy tiểu đoàn và 1 máy ở sở chỉ huy trung đoàn. Loại máy này do Trung Quốc sản xuất liên lạc được ở cự ly xa hàng trăm km nhưng nó lại có yếu điểm là sử dụng sóng FM nên khi liên lạc thường bị lộ (cả radio cũng có thể bắt được sóng) hơn nữa độ nhiễu lại cao. Nếu bị đối phương phát hiện “phá sóng” là bị “tịt” luôn coi như đứt liên lạc. Anh Năm Thắng quyết định cho sử dụng máy PRC25 (do Mỹ sản xuất). Loại máy này liên lạc được ở cự ly gần nhưng dùng sóng ở tần số độc lập địch khó phát hiện. Mà lỡ có bị “lộ” thì chạy qua sóng khác đã hợp đồng trước, thông tin liên lạc không bị gián đoạn.

        Để liên lạc bằng máy PRC25 từ tiểu đoàn 1 về trung đoàn đúng ra phải bố trí 1 máy tại đoạn giữa làm trung gian (trung chuyển) nhưng địa hình  đoạn này toàn đồng trống, địa hình phức tạp không thể bố trí tổ máy nên anh Năm Thắng đã nảy ra 1 “sáng kiến” khá độc đáo. Bởi có ưu thế nói giọng  Nam Bộ, anh đã tự xưng mình là lính sư đoàn 9 ngụy để “hù dọa” bọn giặc trong đồn Bình Phú do lũ bảo an chốt giữ. Nghe tiếng sư đoàn 9 nên bọn bảo an “sợ vỡ mật” không dám “ọ ẹ” gì và cả chục ngày nay cung cúc làm trung gian, chuyển điện qua lại cho Quân Giải Phóng (mà chúng cứ tưởng giúp cho bọn thông tin sư đoàn 9 của chúng). Những bức điện chúng chuyển toàn bằng mật mã nên bọn chúng cũng chẳng biết đường nào mà lần.

        Lính 207 chiến đấu thông minh và sáng tạo như vậy đấy. Trong chiến tranh “có những chuyện thật như đùa” mà giờ đây nghĩ lại mới thấy khâm phục tinh thần chiến đấu tràn đầy nghị lực và lạc quan yêu đời của người chiến sĩ giữa chiến trường khốc liệt, và thông minh, trí truệ đến bất ngờ. Ví như sự sáng tạo của anh Năm Thắng là một bài ca tuyệt vời.

     Đầu tháng 8/1973, trung đoàn bộ dời về đóng quân tại 1 phum cách Tân Lèo 5km.

     6h tối ngày 20/8/1973, chúng tôi được lệnh hành quân theo sở chỉ huy tiền phương của trung đoàn và được lệnh dừng chân tại 1 phum cách Tà Nu khoảng 4km.

     Tà Nu là một thị trấn cặp biên giới Việt Nam – CPC thuộc vùng giải phóng của bạn và ta. Nhưng trước đó mấy ngày 2 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 9 quân ngụy Sài Gòn đã hành  quân chiếm đóng Tà Nu vì chúng biết rất rõ nơi đây là đầu nối của đường giao liên để bộ đội chủ lực của ta từ biên giới theo kênh 28 vượt sông Vàm Cỏ xuống vùng 4 Kiến Tường và vùng Đồng Tháp Mười giáp ranh 3 tỉnh Kiến Phong (nay là Đồng Tháp), Kiến Tường (nay là Long An) và Định Tường (nay là Tiền Giang). Một vị trí rất quan trọng như vậy ta đâu có thể để cho chúng nghiễm nhiên chiếm đóng. Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho trung đoàn 207 và 1 đơn vị của sư đoàn 5 phải tiêu diệt căn cứ của địch mới được hình thành này.

      Trung đoàn 207 (sử dụng tiểu đoàn 1+3 và các đơn vị trực thuộc) chịu trách nhiệm hướng Tây + Nam

      Một trung đoàn của sư 5 hướng Bắc + Đông.

      Các đơn vị còn lại của sư 5 và quân khu là lực lượng dự bị sẵn sàng chặn đánh quân địch chi viện bằng máy bay trực thăng hoặc từ Long Khốt tràn lên.

      Đúng 1h sáng ngày 21/8/1973 bộ đội ta đã vào hết vị trí tập kết tạo thành hình thái bao vây căn cứ Tà Nu, bí mật đào công sự.

      2h sáng cối 120, cối 82 và pháo các cỡ của quân khu, sư đoàn 5 đã nhả đạn bắn phá trận địa  địch. Hàng ngàn quả đạn các cỡ của nhiều trận địa “cấp tập”. Căn cứ Tà Nu có chiều dài khoảng 1km, bề ngang khoảng 400m nhoang nhoáng lửa đạn và kèm theo là những tiếng nổ rền vang.

            2h30 pháo binh ta được lệnh ngừng bắn. Cả 4 hướng bộ đội ta nhất loạt xông lên. Từ các lô cốt và công sự bằng đất trong căn cứ, hỏa lực địch thi nhau vãi đạn ra cả 4 hướng. Lúc này là thời cơ của những hỏa lực bắn thẳng DKZ75, DKZ57, B41, B40 của bộ đội ta phát huy hiệu lực. Phát hiện được “ánh lửa chớp nhá” ở bất cứ vị trí nào của địch là hỏa lực bắn thẳng của ta khai hỏa. Sau những tiếng nổ inh tai những ánh lửa, hỏa điểm  địch dần dần tắt rụi.

            4h30 từ ngoài trận địa báo về trung đoàn 207 đã bắt tay được với sư 5 - Quân chủ lực của ta, làm chủ hoàn toàn trận địa. Bọn địch lớp chết, lớp bị thương, lớp đầu hàng. Số còn lại mở đường máu tháo chạy về bên kia biên giới.

            5h sáng, chúng tôi được lệnh cho bộ phận hữu tuyến thu quấn đường dây rồi cùng các máy phát sóng hành quân quay lại.

            Sở chỉ huy tiền phương trung đoàn lại “nhổ neo” trở về hậu cứ.

            Trận tập kích đêm 21/8/1973 trung đoàn 207 phối hợp với 1 trung đoàn của sư 5 đã tiêu diệt và làm tan rã 2 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 9 quân Ngụy Sài Gòn, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí quân trang quân dụng. Trong số chiến lợi phẩm thu được, thật bất ngờ chúng tôi bắt gặp một chiếc xẻng (do Mỹ sản xuất), trên cán có khắc tên : Nguyễn Văn Thảo - tiểu đoàn 1- e 207 . Đc Thảo đã hy sinh trong trận đánh bi tráng 31/10/1972 tại cù lao Long Khánh, Long Thuận và chiếc xẻng này rơi vào tay địch. Qua gần 1 năm theo một tên lính nào đó thuộc sư đoàn 9 quân ngụy Sài Gòn bây giờ lại quay về với cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 207. Có lẽ linh hồn Anh linh thiêng đã bắt tên lính đó phải mang theo cây xẻng để trả về cho đồng đội của Anh!

            “Mối thù trước đây coi như ta đã rửa xong…”

 

(còn nữa…)

LSV (g/th) 

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích