Hồi ký chiến trường_17/40 (VTK)

31/05/2016,15:04:57 | 1971 | 1

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG (Bài 17)

VŨ TRUNG KIÊN (CCB E207, QK8)

 

 

“Thế hệ chúng con đi như gió thổi

 Quân phục xanh đồng sắc với chân trời

 Chưa kịp yêu một người con gái

 Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai.”

 

(Trần Mạnh Hảo – Trường ca Đất nước hình tia chớp)

 

 Sau trận đánh tại Cù lao Long Khánh, Long Thuận, toàn bộ Trung đoàn lui về hậu cứ (trên đất bạn CPC) tiếp tục huấn luyện, chỉnh huấn, chỉnh quân. Rất nhiều tân binh mới được bổ sung vào thay thế quân số bị hao hụt. Vũ khí cũng được trang bị lại, có nhiều loại vũ khí mới, hiện đại được tăng cường. Đ/c Ba Trắc và đ/c Phạm Dốc được điều về Quân khu nhận nhiệm vụ mới.

 Đ/c Bảy Thàng được Quân khu điều về làm Trung đoàn trưởng, đ/c Lê Chư về làm Chính ủy.

 Đ/c Xuân về làm Trung đoàn phó, anh Tư Dẫu về làm Phó chính ủy. Anh Vũ Nhụy (bác sĩ) về làm Đại đội trưởng quân y (C23).

 Đầu tháng 11/1972, tôi được điều về làm Chính trị viên Đại đội 20 (thông tin.)

Ban chỉ huy đại đội lúc này gồm có 4 người:

 - Tôi làm chính trị viên.

 - Anh Năm Rạng - Đại đội trưởng (anh quê ở Mỏ Cày, Bến Tre đi tập kết rồi trở lại chiến trường. Tuổi quân của anh lớn hơn tuổi đời của tôi tới 4 tuổi. Anh có dáng người cao, nước da sạm, tóc đã hoa râm, rất hiền và vui tính).

 - Đ/c Cát làm Chính trị viên phó.

 - Đ/c Nói làm Đại đội phó (đ/c Nói hiện đang sinh sống tại Vĩnh Long).

Đại đội thông tin có 4 trung đội:

 - Trung đội truyền đạt do đ/c Chúc làm Trung đội trưởng.

 - Trung đội hữu tuyến do đ/c Sáu làm Trung đội trưởng (đ/c Sáu quê Thanh Hóa, sau này về làm Quận đội trưởng quận 10 thành phố HCM, hiện nay đã nghỉ hưu).

 - Trung đội vô tuyến (2watt) gồm máy PRC25 + T139 do đ/c Ngô làm Trung đội trưởng, đ/c Nghiệp làm Trung đội phó.

 - Trung đội vô tuyến điện báo 15watt (T230), 7watt (Ấp Bắc) do đ/c Mậu làm Trung đội trưởng.

 Khoảng cuối tháng 12/1972, anh Năm Rạng lại được điều về Ban thông tin Trung đoàn. Ban thông tin Trung đoàn lúc này có 2 đ/c cơ công là đ/c Diệu và đ/c Lập. (Đc Diệu quê Ninh Bình, hiện đang sinh sống tại tỉnh Long An và có người con gái là cháu Loan đang giảng dạy tại trường đại học kiến trúc TPHCM). Đ/c Diệu được đào tạo cơ bản tại Miền Bắc (chuyên ngành sửa chữa điện tử thông tin loại máy các nước XHCN sản xuất) vậy mà khi vào chiến trường, Trung đoàn phần nhiều lại sử dụng máy thông tin do Mỹ sản xuất (chiến lợi phẩm thu được sau trận đánh), lính miền Bắc vào chẳng hiểu “mô tê răng rứa” gì hết nên gặp rất nhiều khó khăn. Giữa chiến trường chẳng còn cách nào khác, đ/c Diệu đành cố gắng “mày mò” tự nghiên cứu, tự học. Với chiếc mỏ hàn đốt bằng đèn dầu, đ/c Diệu  đã cho “hồi sinh” rất nhiều máy PRC25. Kịp thời trang bị cho bộ đội  giữ vững “mạch máu thông tin”, giúp cho Sở chỉ huy trung đoàn và các BCH Tiểu đoàn ra những mệnh lệnh mang tính quyết định để dành thắng lợi cho từng trận đánh góp phần làm nên những chiến công lừng lẫy của Trung đoàn…Thế mới biết bộ đội ta rất linh hoạt trong chiến đấu, đúng như các cụ xưa thường nói: “Cái khó ló cái khôn”. Khó khăn gian khổ, thiếu thốn, hiểm nguy, chưa bao giờ khuất phục được nhũng người chiến sĩ .

 Sau khi anh Năm Rạng chuyển đi, anh Năm Thắng từ thông tin quân khu được bổ sung về làm Đại đội trưởng thay thế anh Năm Rạng (anh Năm Thắng quê ở Long An, lớn hơn tôi 8 tuổi, từng tham gia phong trào sinh viên, học sinh Sài Gòn, nước da trắng hồng, rất bảnh trai).

 Thế đấy! “chiến tranh mà” cán bộ cứ thay đổi “xoành xoạch”. Nhất là ở các đại đội bộ  binh. Cán bộ 1 năm có thể thay tới 4 lần (ngồi chưa ấm chỗ, ra trận đã hy sinh, lại phải thay người khác).

 Cuối tháng 1/1973, Trung đoàn 207 lại được lệnh hành tiến xuống chiến trường Miền Nam, tiếp tục sứ mệnh giải phóng vùng đất Hồng Ngự, nơi trận đánh trước gần 400 anh hùng liệt sĩ của Trung đoàn đã lấy máu xương mình mà giành giật từ tay kẻ thù xâm lược. Đoàn quân trở về đất Mẹ với lòng căm thù giặc cao độ và một ý chí mãnh liệt giải phóng đồng bào, trả thù cho đồng chí.

 Từ hậu cứ trên đất bạn CPC, chúng tôi hành quân qua Hồng Sa tới chợ Cứt Bò (chẳng rõ lý do gì mà khu chợ có cái tên ngộ ngộ, thấy nhân dân gọi vậy), qua Tàu Chìm (là một địa danh  có chiếc tàu địch bị ta bắn chìm nên có tên như vậy), rồi đến Cồn Cò.

 Sông Sở Thượng là một nhánh của sông Cửu Long rẽ từ Trên CPC chạy cặp biên giới qua Hồng Sa, chợ Cứt Bò, Tàu Chìm, Cồn Cò, Cái Sách, Cầu Tiểu ,Cầu Đại, Cầu Muống. Cách Hồng Ngự khoảng 9km là đồn Cầu Muống rồi tới đồn Cầu Đại, Cầu Tiểu, Cái Sách. Đây là hệ thống đồn bốt liên hoàn mỗi đồn cách nhau từ 2 – 3 km nhằm án ngữ cho thị trấn Hồng Ngự và một phần cho thị xã Tân châu.

 Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn 207 và bộ đội địa phương quân Hồng Ngự đánh đồn. Hậu thuẫn cho 207, nhiều đơn vị còn lại của quân khu,có cả lực lượng của sư đoàn 5, sư đoàn 9 phối thuộc sẵn sàng chặn đánh quân chủ lực ngụy Sài Gòn đến tiếp viện.

 Ngày 20/01/1973, tất cả các đơn vị đã áp sát mục tiêu được định trước. Trung đoàn sử dụng hết binh hỏa lực cùng một lúc bao vây cả 4 đồn Cái Sách, Cầu Tiểu Cầu Đại, Cầu Muống (riêng đồn Cầu Muống có 2 đại đội địa phương quân Hồng Ngự do anh Năm Thành - Huyện đội trưởng chỉ huy tham gia phối thuộc).

 Sở chỉ huy Trung đoàn được đóng quân tại một phum trên đất CPC có đường chim bay đến đồn Cái Sách khoảng 5km. Phía trước là trận địa cối 82, trận địa DKB, cối 120, H12 (của Tiểu đoàn pháo Z10 do Quân khu tăng cường).

 Trạm phẫu thuật và bệnh xá Trung đoàn do anh Vũ Nhụy phụ trách ở gần Tàu Chìm.

 Hệ thống đồn bốt của địch được bố trí kiên cố vì đây là khu vực tiền tiêu, giáp ranh với vùng giải phóng và Cái Sách là đồn quan trọng nhất được bố phòng rất vững chắc với hỏa lực mạnh.

 Đồn Cái Sách có đường kính khoảng 400 – 500m gồm rất nhiều lô cốt cả bê tông cốt thép, xen lẫn lô cốt bằng bao cát. Những lô cốt “đầu cầu” địch bố trí trọng liên 12 ly 7 và đại liên 60, những lô cốt phụ do súng AR 15 và M79 xen kẽ dày đặc. Trung tâm đồn là trận địa cối 81 và cối 60, đồn còn được tăng cường cả DK 90 và M72 đề phòng ta tấn công bằng xe tăng hoặc xe bọc thép. Xung quanh đồn là mấy lớp hàng rào dây kẽm gai khép kín và bãi mìn. (Phía ngoài cùng là lớp hàng rào đơn, đến hàng rào kép, hàng rào mái nhà, hàng rào cũi lợn trong cùng là lớp hàng rào bùng nhùng).

 Ngay trong đêm bộ đội ta bí mật đào công sự tạo thành 4 trận địa bao vây cả 4 đồn địch.

 4h sáng, trận địa cối 82 và ĐKZ 75 của Trung đoàn và 3 Tiểu đoàn phối hợp với cối 61 của các Đại đội bộ binh được lệnh khai hỏa. Cả 4 vị trí quân địch cặp sông Sở Thượng nhì nhằng chớp lửa xen lẫn những âm thanh ì ầm. Cối 120 ly của Z10 cũng đề-pa chi viện. Đồn Cái Sách, Cầu Tiểu, Cầu Đại, Cầu Muống chìm trong khói đạn.

 Sau 30 phút pháo binh ta dồn dập bắn phá, bộ đội ta được lệnh xung phong. Những quả bộc phá sào và mìn DH10 nổ tung nhiều đoạn dây kẽm gai của địch. Bộ đội ta nhất loạt xông lên theo hướng cửa mở. Phát hiện xung lực ta, hỏa lực của địch trong đồn bắn ra như vãi đạn. Bãi mìn quái ác có chiều rộng mấy chục mét bao quanh đồn địch dù đã được pháo binh giúp phá hủy phần nào, vẫn còn khá dày đặc, đã gây cho bộ đội ta nhiều thương vong, nhiều đ/c trúng mìn cụt cả 2 chân.

 5h sáng cả 4 trận địa báo về bộ đội ta vẫn chưa đánh chiếm được cửa mở. Lệnh từ Sở chỉ huy Trung đoàn “chuyển sang chiến thuật vây ép”. 5h30, pháo 155 ly từ Hồng Ngự và Tân Châu bắn như đổ đạn xung quanh các trận địa ta (cứ như thể pháo binh của chúng đã can tọa độ sẵn từ trước nên chỉ ngay các loạt đạn đầu, pháo của địch đã nổ gần hàng rào dây kẽm gai sát các công sự, ụ súng của bộ đội ). Từ 4 trận địa tiếp tục báo cáo về sở chỉ huy: “Bộ đội lại thương vong do các loạt đạn pháo của địch với độ chính xác gần như tuyệt đối”.

 Từ mấy trận địa DKB (hỏa tiễn tầm xa) của Z10 được lệnh khai hỏa. Hàng chục quả tên lửa xé gió lao đi (chắc các chiến sĩ pháo binh ta cũng đã căn tọa độ sẵn từ trước) nên chỉ sau ít phút các trận địa báo về: ”Pháo binh địch đã giảm cường độ bắn phá”.

 Suốt ngày hôm đó 2 cụm pháo địch ở Tân Châu và Hồng Ngự hầu như “lặng tiếng” vì  biết rất rõ sự bất lợi của chúng. Trận địa pháo địch là cố định. Trận địa của ta lại thường xuyên di chuyển rất linh hoạt nên khi 2 bên đấu pháo thì trận địa của chúng sẽ  “lãnh đủ”.

 Đêm 21/1/1973, bộ đội ta được hậu cần Trung đoàn  tiếp tục bổ sung đạn dược, số liệt sỹ ngoài mặt trận cũng được dân công hỏa tuyến huyện Hồng Ngự giúp đỡ đưa về phía sau.

 Hình ảnh của chị Hai Kim Cúc, Huyện đội phó huyện Hồng Ngự mặc bộ quần áo bà ba đen, đội mũ tai bèo màu xanh da trời, ngang lưng đeo khẩu súng ngắn chỉ huy đoàn dân công hỏa tuyến, vừa vận chuyển đạn ra trận địa rồi lại tải liệt sỹ về mai táng gần kinh Ba Nguyên, tới bây giờ vẫn còn như in trong tâm trí tôi, với lòng cảm phục sâu sắc. Chị như một hình ảnh đại diện cho những vị nữ chỉ huy của đội quân Bà Định, dòng dõi của những Bà Trưng, Bà Triệu, hiền hòa mà dũng mãnh…Trên chiến trường Miền Nam, các chị các em, rất xinh đẹp mà khí phách ngang trời, đã góp phần làm nên những chiến công hiển hách cùng dân tộc.

 

 

  “Em đẹp lắm như mùa Xuân bừng dậy

  Súng trên vai cũng đẹp như Em

  Em ơi, sao tóc Em thơm vậy?

  Hay Em đi qua vườn Sầu riêng…

      …..

  Em là du kích, Em là giao liên

  Em chính là Quê hương ta đó

       ……..

  Chỉ có trái tim chung thủy sắt son

  Và khẩu súng trong tay cháy bỏng căm hờn.”

(Lê Anh Xuân – 1965)

 

 Tại Sở chỉ huy Trung đoàn, không khí hết sức căng thẳng, anh Năm Thắng và anh Sáu Hiền chủ nhiệm thông tin theo sát 4 máy PRC25 luôn có những thông tin viên liên tục nhận những báo cáo từ trận địa và truyền đi những mệnh lệnh khẩn cấp của Chính ủy và Trung đoàn trưởng. Tôi cũng không rời  đài 15 w cùng các đ/c báo vụ tiếp nhận những bản mật mã: “Toàn những con số, ký hiệu” rồi chuyển ngay cho bộ phận cơ yếu do đ/c Sở phụ trách mở mật mã rồi báo cáo BCH Trung đoàn. Chính từ nơi này, những mệnh lệnh cần thiết và kịp thời sẽ quyết định thành bại của trận đánh.

 Để hạn chế đến mức thấp nhất thương vong của bộ đội, Quân khu chấp nhận cho Trung đoàn vẫn tiếp tục dùng chiến thuật vây ép. Một đơn vị xe tăng T34 của ta được Quân ủy Miền tăng cường cũng đã đến ở một vị trí rất gần. Cả Trung đoàn bừng lên một khí thế “đánh giặc lập công”, quyết tâm trả thù cho những cán bộ chiến sĩ đã hy sinh trong trận đánh Cù lao Long Khánh, Long Thuận.

 Ngay đêm đó, bộ đội ta lại được lệnh áp sát hàng rào tiếp tục đào công sự và giao thông hào. Cả 4 đồn địch mỗi đồn chỉ cách nhau khoảng 2 đến 3 km nhưng không tài nào chi viện được cho nhau. Chúng tự biết số phận như “cá nằm trên thớt”.

 Trận địa pháo Tân Châu và Hồng Ngự bị pháo binh Z10 do anh Trạch làm Tiểu đoàn trưởng khống chế cũng chẳng dám “ho he”.

 9h sáng ngày 22/01/1973, máy bay F111 ném bom vào hậu cứ của ta gần khu vực Tàu Chìm gây thiệt hại cho hậu cần và bộ phận phía sau.

 5h chiều ngày 22/1/1973, một công điện từ Quân khu gửi về do các đ/c báo vụ chuyển sang cho bộ phận cơ yếu. Trong cái hầm lộ thiên có mấy tấm ni lon che bít bùng bộ phận cơ yếu khẩn trương giải mã và nét mặt của đ/c Sở, Tổ trưởng Tổ cơ yếu hớn hở chuyển ngay công điện cho đ/c Chính ủy và Trung đoàn trưởng. Những gương mặt lem nhem bụi đất của chúng tôi trong ánh chiều tà giữa căn hầm tiền phương tạm bợ đều rạng rỡ hẳn lên.

 “Một đơn vị pháo đặc biệt được tăng cường cho Trung đoàn 207”.

 Ngay trong đêm bộ phận pháo tăng cường đã về tới và được cơ quan tham mưu bố trí đồn trú cách Sở chỉ huy Trung đoàn khoảng 1km.

 Ngày 23/1/1973, bộ đội ta ở các trận địa vẫn tiếp tục vây ép làm cho quân địch càng thêm mỏi mệt, hoang mang.

 2h chiều ngày 23/01/1973, lại thêm mấy phi vụ F4 ném bom sâu vào hậu cứ của ta ở gần Cồn Cò gây nhiều thiệt hại cho các bộ phân phía sau, làm ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội trên trận địa. Không thể cứ để “giằng dai” mãi được, Sở chỉ huy Trung đoàn quyết định sử dụng con “át chủ bài” là loại pháo hỏa tiễn mới được Quân khu và Quân ủy Miền chi viện đêm qua.

 Sớm tinh mơ, 4h sáng ngày 24/1/1973, cối 82, cối 120, H12 của ta bắt đầu dồn dập bắn phá đồn Cái Sách. Những quả tên lửa B72 (một loại tên lửa điều khiển có dây lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường bắn bách phát, bách trúng) nổ chụp ngay trung tâm đồn Cái Sách, đồn Cái Sách chìm nghỉm trong khói lửa.

 Không chịu nổi trước làn hỏa lực mạnh như vũ bão của pháo binh ta, ngay sáng ngày 24/1/1973 toàn bộ lính trong đồn đã mở đường máu tháo chạy, Cái Sách đã hoàn toàn được giải phóng.

 Vị trí tiền tiêu được coi là mạnh và kiên cố nhất của địch đã rơi vào tay Quân giải phóng nên chỉ sau đó mấy ngày, ở ba đồn còn lại (Cầu Tiểu, Cầu Đại, Cầu Muống ) bọn địch cũng bỏ đồn tìm đường thoát thân.

 Một dải đất dài mấy chục km bên sông Sở Thượng rợp cờ Mặt trận dân tộc giải phóng tung bay phần phật trên những ngọn cây ô môi.

 Vùng giải phóng của ta đã được nối liền từ Cầu Muống tới tận Hồng Sa.

 Với sức tiến công như vũ bão của Quân giải phóng trên khắp các chiến trường trong đó có địa bàn do Trung đoàn 207 đảm trách. Không còn cách nào khác ngày 27/1/1973 địch đã phải ký kết hiệp định tại hội nghị Pari…

 

(còn nữa…)

LSV (g/th) 

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Bình luận


Phan Xuân Tuấn
    

01/12/2017 14:28:54

Tìm mộ Liệt sĩ

Kính gửi các cựu chiến binh, gia đình cháu có liệt sĩ hi sinh như sau ạ : Liệt sĩ : Phan Kim Quỳnh Sinh năm 1952 Quê quán: Xã Khánh Thành - Huyện Yên Thành -Tỉnh Nghệ An Nhập ngũ: 8/1969 Đi B: 10/1970 Hi sinh: 30/12/1970 Đơn vị: V104KB Chức vụ: Chiến sĩ Cấp bậc: Binh nhất Đơn vị khi hi sinh : D2257 - Đ770, Cục Hậu Cần Chôn tại nghĩa trang Bệnh xá C23, hành quân trên đường Trường Sơn Theo tra cứu từ Cục Chính sách, Bộ Quốc Phòng liệt sĩ Quỳnh hi sinh tại Bệnh xá C23, Đ770, Cục Hậu Cần chưa được quy tập. Được biết, tại Bệnh xá C23 có nhiều cán bộ, chiến sĩ hi sinh được chôn cất trong khu vực. Kính mong tìm được Bệnh xá C23, Đ770, Cục Hậu cần đóng ở khu vực nào, gia đình tìm kiếm và quy tập các liệt sĩ. Theo đồng đội trực tiếp chôn cất : Bốn anh em đi cùng đợt ở cùng quê , ba người thay nhau cáng liệt sĩ đến bệnh xá nghỉ một đêm thì sáng mai liệt sĩ Phan Kim Quỳnh hi sinh do sốt rét, sau đó có xin của Cô Lan hoặc Loan người Thanh Chương - Nghệ An làm Y tá tại bệnh xá một lọ thuốc Plexilin. Ghi đầy đủ họ tên quê quán an táng tại nghĩa trang của bệnh xá, binh trạm. Hai đồng chí còn lại cũng hi sinh sau khi vào chiến trường miền nam, chỉ còn một mình chú Đặng Ngọc Khả còn sống tuy nhiên khi hành quân qua cũng chớp nhóng, thời gian đã quá lâu nên không còn nhớ tên Bệnh xá của Binh trạm. Gia đình muong muốn tìm lại cô Lan hoặc cô Loan người Thành Chương để biết rõ thêm địa danh của bệnh xá. Ai biết phần mộ liệt sĩ ở đâu, xin vui lòng báo tin cho em ruột Phan Xuân Vũ công tác tại sở Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch Gia Lai ĐT : 0913486820.hoặc cháu Phan Xuân Tuấn, Lai, ĐT 0905141346. Gia đình xin trân trọng cảm ơn !

Có thể bạn sẽ thích