Hồi ký chiến trường_15/40 (VTK)

31/05/2016,15:04:39 | 2908 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG (Bài 15)

VŨ TRUNG KIÊN (CCB E207, QK8)

************************** 

     “Đất nước

       Bốn ngàn năm không nghỉ

       Những đạo quân song song cùng lịch sử

       Đi suốt thời gian, đi suốt không gian

       Sừng sững dưới trời anh dũng hiên ngang” – (Nam Hà)

   

 

Sau trận đánh tại Phum Chàm, Trung đoàn bộ về đóng quân gần chùa 17 Tăng (chùa này trên đất nước CPC nhưng cách đó ít tháng quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân lấn chiếm đã bị một đơn vị của ta chặn đánh, 17 xe tăng của địch bị thiêu rụi tại khu vực chùa này, xác vẫn còn nằm ngổn ngang nên bộ đội ta mới đặt tên như vậy).

Thời gian này, một đợt học tập, chỉnh quân từ Trung đoàn đến các Tiểu đoàn và các đơn vị trực thuộc được triển khai để phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ mới.

Cùng lúc, nhân sự của Trung đoàn có nhiều thay đổi.

- Anh Nông Ngọc Cận và anh Tư Sen được điều sang đơn vị khác.

- Anh Ba (hay còn có tên Ba cầu sập) được Quân khu điều về làm Phó chính ủy Trung đoàn thay thế cho anh Tư Sen.

- Anh Ba Lập được Quân khu điều về chính thức giữ chức Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn. Vậy là Ban chính trị lúc này mới đủ cán bộ lãnh đạo của Ban. Anh Ba Lập có tuổi đời và tuổi quân thâm niên cao. Người cao to, tính tình vui vẻ nhưng trong công việc rất “nguyên tắc”. Chữ ký của anh thì thật “tuyệt vời”, không ai bắt chước được. Nó chẳng khác gì mớ hàng rào dây kẽm gai bùng nhùng. Nhưng cả trăm chữ đều giống hệt nhau.

- Anh Đương được điều về Cục chính trị Quân khu.

- Anh Si, đ/c Quân, đ/c Trực, đ/c Long cũng được điều về bổ sung cho các đơn vị chiến đấu (lúc này anh Nghị được điều về thay thế đ/c Long và giữ chức Trợ lý 2 cán bộ).

- Tôi được điều về làm Chính trị viên đại đội 19 (một đợt sắp xếp lại tổ chức chẳng khác gì công tác luân chuyển cán bộ bây giờ).

Khi đã cầm quyết định trong tay tôi ghé cơ quan tham mưu để thăm đ/c Nguyễn Hữu Quý, Phó ban quân lực trung đoàn. Đ/c Quý hiện nay là Bí thư đảng ủy văn phòng Cục hàng không dân dụng, Phó ban liên lạc bạn chiến đấu E207 và phu nhân là Minh Ngọc, Trưởng ban công tác xây dựng Đảng, báo Sài Gòn giải phóng. Minh Ngọc đã có nhiều bài viết về 207 đăng trên báo Sài Gòn giải phóng. Ngôi nhà mà anh Tịch đang ở chính là do Minh Ngọc vận động báo SGGP tài trợ xây dựng đấy.

Có lẽ ở Trung đoàn tôi và đ/c Quý là 2 người sống bên nhau lâu nhất kể từ tháng 2/1968. Lúc đó tôi là cán bộ khung và may mắn được về quê hương đ/c Quý ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương nhận quân. Các xã Nam Trung, Nam Chính, Kho cuốn (kho lương thực) vẫn còn in đậm trong ký ức tôi. Rồi chúng tôi lại cùng nhau vượt Trường Sơn và về cùng 1 đơn vị.

Biết tôi được điều xuống đơn vị trực tiếp chiến đấu, đ/c Quý ghé tai mách nhỏ “trong kho quân giới nhận về nhiều súng K54 hãy còn mới "cảo” và có ngụ ý muốn đổi khẩu súng tôi đang mang bên mình đã cũ sì, cũ xịt. “Còn gì bằng” cho chắc ăn, khi giáp mặt với quân thù, bóp cò súng sẽ không bị lép. Tôi đồng ý ngay và khẩu súng K54 được đ/c Quý hoán đổi với bao da màu vàng cam rồi khẩu súng này đã theo tôi suốt cuộc đời binh nghiệp.

Đại đội 19 lúc này Ban chỉ huy mới có 3 người. Tôi làm chính trị viên, anh Tấn làm đại đội trưởng (anh Tấn quê ở Cà Mau lớn hơn tôi gần 20 tuổi. Khuôn mặt dày dặn và hằn lên nhiều nếp nhăn, đôi môi vừa hồng vừa trắng giống như người bạch tạng), anh Thép làm đại đội phó, 3 trung đội trưởng là đ/c Mùa, đ/c Lân, đ/c Chanh (đ/c Mùa sau này về làm đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1).

Đầu tháng 9/1972, ta mở chiến dịch So Ri.

Kom Pông Trà Bét là một thị trấn nằm trên quốc lộ 1 cách Néc Lương khoảng 25km, có sông Cà Tráp chảy về Việt Nam tạo nên một đường giao thông thủy vô cùng thuận lợi, do vậy việc chuyển quân và vũ khí xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nam Bộ đều phải đi qua vùng này.

Ngày 3/9/1972, chiến dịch So Ri giải phóng thị trấn Kom Pông Trà Bét bắt đầu.

6h tối từ một phum nằm sâu trong hậu cứ chúng tôi được lệnh hành quân. Đại đội 19 có 2 trinh sát trung đoàn dẫn đường. Anh Tấn dẫn đầu đoàn quân, tôi đi giữa đội hình và anh Thép đi sau chót đoàn quân. Chúng tôi theo một con đường đất do xe bò đi lâu tạo thành băng ngang cánh đồng tiếp cận quốc lộ 1 (đoạn đường này chạy từ Kom Pông Trà Bét đi về Tây Ninh - Việt Nam).

Khoảng 8h tối chúng tôi đã có mặt trên mặt đường nhựa và hướng về thị trấn Kom Pông Trà Bét.

Để ngăn chặn các cuộc hành quân bằng cơ giới của quân Ngụy Sài Gòn và Ngụy Lon Non, chính quyền của bạn (CPC) đã cho phá con đường này. Rất nhiều những mô đất được đắp trên mặt đường nhựa. Xen lẫn là những đoạn hào rộng hơn 1 m sâu chừng 1m và cắt ngang mặt đường (chỉ chừa tim đường rộng độ 1 m cho người đi bộ hoặc xe 2 bánh). Trời rất tối nên chúng tôi hành quân thành một hàng dọc và bám thật sát nhau. Nếu sơ ý sảy chân là rớt xuống khe hào. Chiếc cầu sắt gần thị trấn Kom Pông Trà Bét cũng bị công binh dùng thuốc nổ đánh sập (do vậy khi tấn công thị trấn Kom Pông Trà Bét bộ chỉ huy chiến dịch chỉ sử dụng được loại xe tăng T34. Còn loại T54 cho nằm phía sau “ngồi chơi xơi nước”).

Thế đấy! Trong chiến tranh có nhiều chuyện thật là nghịch cảnh: “Gây khó dễ được cho đối phương, đến lượt mình cũng chịu chung số phận”.

Khoảng gần 2 tiếng hành quân trên đường quốc lộ, chúng tôi lúc nào cũng “nơm nớp”: chỉ sợ vấp ngã dập mặt vì những ụ đất oái ăm nhan nhản trên mặt đường, chằng chịt đan xen chẳng có hàng lối gì, bên cạnh đó là nỗi lo sảy chân rớt xuống khe hào (gãy giò chứ chẳng chơi).

Bất ngờ, 2 trinh sát đi đầu dẫn đoàn quân rẽ trái vượt cánh đồng về hướng sông Cà Tráp. Đoạn này chỉ còn cách Kom Pông Trà Bét khoảng 7km.

2h sáng đoàn quân chúng tôi được mấy chiếc ghe do hậu cần trung đoàn hợp đồng đã chờ sẵn giúp chúng tôi vượt sông. 2h30 bộ đội ta được lệnh dừng chân, đào công sự và ém quân tại khu vực này.

14h ngày 4/9/1972 tôi và anh Tấn được mời về Sở chỉ huy Trung đoàn để nhận nhiệm vụ. Theo tốc độ chiến dịch, Sở chỉ huy Trung đoàn đã dời về cách chỗ chúng tôi ém quân khoảng 2 km nên hai anh em “hành quân” cũng thuận lợi.

Tại một gốc cây me nước có tàn lá rất rộng chiếc bản đồ quân sự được treo ngay dưới gốc cây.

Tôi và anh Tấn tập trung ghi nhớ nhiệm vụ được giao: “Đại đội 19 có nhiệm vụ dùng thuốc nổ đánh sập chiếc cầu trên quốc lộ 1 cách Néc Lương khoảng 15km. Sau dó chốt chặn bảo vệ sườn trái cho Tiểu đoàn 3”, và nắm chắc chiến thuật của trận đánh này:

Tiểu đoàn 3 chốt chặn hướng đông quốc lộ 1 chặn quân tiếp viện từ Néc Lương giải cứu Kom Pông Trà Bét.

Một đơn vị của quân khu nằm hướng Tây lộ song song với trận địa Tiểu đoàn 3.

Hai tiểu đoàn còn lại 1 và 2 của Trung đoàn 207 có nhiệm vụ đánh địch từ hướng Đông thị trấn Kom Pông Trà Bét.

Một đơn vị của Quân khu phối hợp đánh địch từ hướng Tây của Kom Pông Trà Bét.

Lực lượng còn lại của Quân khu sẵn sàng đánh quân địch đổ bộ bằng máy bay trực thăng hoặc từ biên giới tràn lên.

Ngoài những đơn vị pháo mặt đất và pháo phòng không, chúng tôi còn được tăng cường xe tăng T34 làm nhiệm vụ chi viện hỏa lực cho bộ binh đột kích.

Cuộc họp chỉ diễn ra chớp nhoáng không đầy 1 tiếng đồng hồ. Trên khuôn mặt của mọi người, từ cán bộ E đến C đều tươi tắn và rạng rỡ hẳn lên. Lần đầu tiên trong trận đánh có sự phối hợp, hợp đồng binh chủng của cả cơ giới, pháo binh và nhiều đơn vị bạn. Họp xong, 2 anh em vội vã ra về để kịp triển khai nhiệm vụ. Thời gian quá gấp gáp rồi.

18h bộ đội ta được lệnh xuất kích.

Đại đội 19 chúng tôi được chia làm 2 bộ phận. Trung đội 1 do đ/c Mùa làm trung đội trưởng, có anh Thép đại đội phó đi cùng và trực tiếp chỉ huy sử dụng 4 gói thuốc nổ TNT mỗi gói nặng 10kg bí mật tiếp cận chiếc cầu đúc bằng bê tông cốt thép. Lực lượng còn lại do tôi và anh Tấn chỉ huy lập thành tuyến phòng ngự bên trái trận địa của Tiểu đoàn 3.

Tiểu đoàn 3 lập trận địa phòng ngự cách chiếc cầu khoảng 300m và trải dài trên diện rộng khoảng 1km. Đối diện bên kia đường là trận địa phòng ngự của đơn vị bạn.

2h khuya ngày 5/9/1972 chúng tôi đã vào hết vị trí tập kết và cho bộ đội tiến hành đào công sự. Anh Tấn và tôi cùng 2 liên lạc ở chung một hầm. Lúc này đang mùa mưa nên trên cánh đồng đều có nước. Được cái đồng ruộng CPC có đặc điểm riêng, mặt ruộng ngập là do nước mưa đọng lại nên chỉ xâm xấp (không ngập sâu như vùng đồng bằng sông Cửu Long), hơn nữa đất ở đây lại pha cát nên đi dưới mặt ruộng không bị lún sụt.

Một cái hầm lộ thiên do 2 đ/c liên lạc có chúng tôi tiếp sức được hình thành bề ngang chừng 1m, dài khoảng 2m đủ cho 4 người ngồi thoải mái. Xung quanh là lớp đất dày có ngụy trang bằng cỏ và cắm những cành cây tươi.

4h sáng một ánh chớp nhoáng lên kèm theo một tiếng nổ long trời của khối thuốc nổ 40kg. Chiếc cầu nằm cách trận địa chúng tôi khoảng gần 2km đã bị bộ phận anh Thép đánh sập. Tôi và anh Tấn đều vui mừng vì nhiệm vụ cơ bản của chúng tôi coi như đã hoàn thành.

5h sáng, xa xa, ở phía sau lưng chúng tôi, là cứ điểm Kom Pông Trà Bét nhì nhằng chớp lửa và những âm thanh ầm ì. Pháo binh của Trung đoàn, Quân khu bắt đầu nhả đạn. Và chắc chắn lúc này, Tiểu đoàn 1, 2 và các đơn vị bạn đang ở tư thế chuẩn bị xung phong…

Cả ngày hôm đó 5/9/1972 tại trận địa D3, và bên kia đường là đơn vị bạn vẫn còn “rảnh rỗi”. Địch ở hướng Néc Lương vẫn chưa có động tĩnh gì. Hướng Kom Pông Trà Bét tiếng súng thưa hơn và nhiều lúc gần như im hẳn. Tiểu đoàn 1, 2 lúc xung phong đã gặp phải bãi mìn và hỏa lực dày đặc, bộ đội thương vong nhiều nên phải dừng lại.

Đêm hôm đó, 5/9/1972, trong màn đêm dày đặc, chúng tôi nhìn rất rõ đốm lửa của C130 “chớp nhá” phóng đạn quanh khu vực Kom Pông Trà Bét.

Bộ phận anh Thép sau khi hoàn thành nhiệm vụ được  điều về bố trí nằm sát tại hầm của ban chỉ huy để tăng cường cho lực lượng  trận địa phòng ngự.

8h sáng ngày 6/9/1972, nhiều phi vụ máy bay địch ném bom  điên cuồng vào trận địa ta, xung quanh khu vực Kom Pông Trà Bét.

9h sáng từ hướng Néc Lương một đoàn xe tăng và xe thiết giáp khoảng 5 – 6 chục chiếc ầm ầm lăn xích trên quốc lộ 1 nhằm cứu nguy cho thị trấn Kom Pông Trà Bét.

Khoảng 10h, đoàn xe địch sựng lại và dồn cục bên chiếc cầu bị công binh chúng tôi đánh sập. Địch quyết định dùng xe bọc thép lội nước tạt ra 2 bên để vượt cầu. Những khối thép của đoàn xe lội nước M113 lổm ngổm như đàn cua chọc thẳng vào hướng trận địa Tiểu đoàn 3.

10h30 địch chỉ còn cách trận địa D3 không đầy 300m. Chúng tôi nín thở chờ đợi. Bất ngờ DKZ57, B41 của D3 khai hỏa. Hàng chục quả đạn xé gió lao vào đoàn xe thiết giáp địch, 2 chiếc đi đầu trúng đạn ngùn ngụt bốc cháy, lính bộ binh trên xe nhảy xuống nằm rạp trên những bờ ruộng vãi đạn nhọn và M79 về hướng D3, những khẩu trọng liên gắn trên những khối thép chúc đầu phun đạn. Bên kia đường tiếng súng của đơn vị bạn hiệp đồng cũng đã rền vang. 11h30 đoàn xe địch và bộ binh lùi về phía sau cách trận địa D3 khoảng 1km và ngay sau đó đạn pháo 155 ly từ NécLương bắn vào trận địa D3 và đơn vị bạn, bùn nước văng lên tứ tung.

Sau loạt bắn phá dữ dội của pháo binh địch, địch lại tổ chức tấn công  quyết liệt, 2 mũi thiết giáp dàn hàng ngang đánh cặp 2 bên đường lộ 1, chi viện cho lũ bộ binh. Trận địa trải rộng  hơn 1km hướng trước mặt D3. Lũ bộ binh lóc ngóc bò lên đông như kiến, sau lưng là những khẩu trọng liên từ những khối thép ầm ầm vãi đạn, pháo tự hành của những chiếc xe tăng M48 trên đường cũng bắn chi viện, nhiều thành công sự của D3 bị đạn địch thổi bay.

12h30 lũ bộ binh địch đã vào rất gần, D3 đã phải dùng lựu đạn để chặn quân địch. Ban chỉ huy đại đội 19 hội ý chớp nhoáng và quyết định cho bộ đội đánh thẳng vào sườn trái quân địch để cứu nguy cho trận địa D3. Cả 3 mũi do 3 trung đội trưởng chỉ huy đồng loạt thoát li khỏi công sự, dàn hàng ngang tiến về phía địch. Khi còn cách khoảng 150m, bộ đội ta lợi dụng chướng ngại vật là các bờ ruộng, găm đạn vào sườn quân địch. Bị đánh bất ngờ vào ngang sườn, bọn địch quay sang chống đỡ và chỉ lát sau lũ bộ binh và xe bọc thép địch lùi dần.

1h30, cả 2 hướng D3 và bên kia đường do đơn vị bạn đảm nhiệm đều đã an toàn, địch đã lùi xa.

2h chiều ngày 6/9/1972. D1 và D2 được hơn chục xe tăng T34 phối hợp mở đợt tấn công vào thị trấn Kom Pông Trà Bét, bên kia đơn vị bạn cũng nổ súng phối hợp nhịp nhàng.

Đúng 4h chiều 6/9/1972, toàn bộ quân địch ở Kom Pông Trà Bét kéo cờ trắng đầu hàng

Như vậy chỉ qua có 2 đêm, 2 ngày. Trung đoàn 207 phối hợp với các đơn vị trong Quân khu đã tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn có xe tăng và xe bọc thép chi viện, giải phóng hoàn toàn thị trấn Kom Pông Trà Bét. Toàn trung đoàn bộ đội ta hy sinh gần 50 đ/c mà thiệt hại nặng nhất là Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2.

Sau khi Kom Pông Tra Bét bị thất thủ, bọn quan thầy Mỹ vô cùng tức tối và quân đội Sài gòn  thì hoang mang lo sợ. Chỉ 5 ngày sau đó tức ngày 11/9/1972 chúng đã huy động tới 4 lữ đoàn quân ngụy Lon Lon (tương đương  20 tiểu đoàn) và 1 sư đoàn quân ngụy Sài Gòn có 2 chi đoàn xe tăng, xe bọc thép và máy bay yểm trợ hòng chiếm lại thị trấn Kom Pông Trà Bét (vì chúng biết rất rõ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng này)

Trận chiến lần thứ 2 diễn ra vô cùng gay go ác liệt. Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng Trung đoàn 207 làm nòng cốt, ngoài ra còn có các đơn vị bạn trong Quân khu và Sư đoàn 5 tham gia phối hợp. Dưới làn đạn pháo đủ các cỡ và mưa bom của nhiều loại máy bay máy bay (C130, F4, A37, F111…) Cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 207 cùng các đơn vị bạn đã đánh lui nhiều đợt phản công của địch, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 20 tiểu đoàn quân ngụy Lon Non và 1 sư đoàn quân ngụy Sài Gòn được không quân Mỹ yểm trợ. KOM PÔNG TRÀ BÉT “vĩnh viễn nằm trong vùng giải phóng của ta”. Tuy nhiên để giữ đươc Kom Pông Trà Bét, hơn 200 cán bộ chiến sỹ của Trung đoàn 207 lại tiếp tục ngã xuống nơi này (Mới đây đ/c Phan Xuân Thi, Trưởng Ban liên lạc bạn chiến đấu và CCB Trung đoàn 207 đã cung cấp thông tin cho Quân khu 9 dể tìm kiếm quy tập anh em về nước).

Bài này tôi viết vừa xong thì chỉ còn mấy ngày nữa là đến QUỐC GIỖ 27/7 KỶ NIỆM 65 NĂM NÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ và Ban liên lạc bạn chiến đấu Trung đoàn 207 cùng chính quyền địa phương đang khẩn trương chuẩn bị cho ngày khánh thành giai đoạn 1 “Khu tưởng niệm các liệt sỹ Trung đoàn 207” tại Thạnh Hóa-Long An. Bài viết này thay cho lời tri ân tới những đồng đội đã chiến đấu và anh dũng hy sinh tại Kom Pông Trà Bét. Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của gần 300 liệt sỹ đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh tai Rạch Đá Biên, cùng trên 2000 liệt sỹ của Trung đoàn 207 đang nằm rải rác trên khắp các chiến trường.

Tuyến hành lang biên giới đã được mở toang, thông xuống chiến trường miền Tây Nam Bộ…và từ nay trở đi Trung đoàn 207 chính thức về hoạt động tại chiến trường Miền Nam với những trận đánh oai hùng “đầy máu và nước mắt” và lập nên những chiến công vô cùng hiển hách…

 

(còn nữa…)

LSV (g/th) 

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích