Hồi ký chiến trường_12/40 (VTK)

31/05/2016,15:04:07 | 3007 | 0

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG (Bài 12)

VŨ TRUNG KIÊN (CCB E207, QK8)

 

Sau khi Ba Rài được hoàn toàn giải phóng, chính quyền của bạn tổ chức đưa nhân dân trở về làm ăn sinh sống. Tiểu đoàn 4K quân đội bạn được giao nhiệm vụ chốt chặn gần vị trí Ba Khom và Tiểu đoàn 2 vẫn đứng chân ở Ô Tà Thóc sẵn sàng chi viện giúp bạn.

Tiểu đoàn 5K lại được thành lập và được giao nhiệm vụ phòng thủ gần Pray Tưng, thế chân Tiểu đoàn 1 rút quân về đóng tại rừng cao su (Bút Khơ No) cũng để sẵn sàng chi viện giúp đơn vị bạn. Một khung huấn luyện cho bạn lại tiếp tục tuyển quân, huấn luyện.

Khoảng đầu 11/1971, tôi và đ/c Vinh bên bộ phận tham mưu được cùng đi với anh Ba Trắc và anh Phạm Dốc xuống đơn vị huấn luyện cho đơn vị bạn tại một rừng cao su cách Trung đoàn bộ khoảng 7km. Hai chiếc xe Honda 90 chở ba từ Trung đoàn bộ len lỏi trong đường mòn rừng chuối rồi đến rừng cao su. Bộ đội CPC đang được huấn luyện, cũng võng, cũng tăng che mưa, cũng bếp Hoàng Cầm chẳng khác gì khi chúng tôi hành quân ở Trường Sơn. Chỉ có điều là ở đây khu rừng này rất bằng phẳng. Các bếp ăn đại đội còn nuôi được cả heo để cải thiện đời sống. Vì thức ăn cho heo ở đây dễ kiếm: chuối, mít, đu đủ ở gần đó rất nhiều chỉ cần thêm một ít cơm thừa canh cặn là mấy con heo lớn nhanh như “thổi”. Xa nơi đóng quân khoảng 500m là bãi thao trường cũng lô cốt, giao thông hào, ụ đề kháng và hàng rào “kẽm gai” đơn, kép, cũi lợn, mái nhà nhưng có điều không phải bằng kẽm gai thật mà căng toàn bằng dây chuối khô “giả tưởng” để cho bộ đội CPC luyện tập.

Anh Ba Trắc và anh Phạm Dốc quyết định xuống đơn vị huấn luyện vừa để thăm bộ đội, vừa để kiểm tra chất lượng huấn luyện (vì bộ đội của bạn cũng giống như ta phải có chất lượng để khi ra chiến trường mới hoàn thành nhiệm vụ). Mỗi đại đội đều có khẩu hiệu  bằng chữ CPC dịch ra tiếng Việt là: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường đỡ đổ máu”. Đơn vị nào cũng có 4 – 5 phiên dịch người Việt Kiều để giúp cho “chuyên viên” của ta truyền đạt kiến thức cho bạn. Hai chiếc xe Honda được dừng lại gần khu nhà bếp, hai chiến sỹ lái xe (là 2 liên lạc của anh Phạm Dốc và anh Ba Trắc) ở lại, tôi và đ/c Vinh cuốc bộ theo anh Ba Trắc và anh Dốc xuống thao trường. Cũng một tiếng “Nghiêm” của vị chỉ huy huấn luyện, đ/c Nhưng bước đều ngay tới trước mặt anh Ba Trắc và anh Dốc nhưng chẳng nhìn vào ai mà nhắm ngay khoảng giữa của 2 anh đứng, cũng giơ tay lên vành mũ báo cáo. Làm anh Ba Trắc và anh Phạm Dốc vô cùng bối rối chẳng biết đ/c Nhưng chào ai và báo cáo ai. Tôi và đ/c Vinh đứng sau không nhịn được cười, đành phải ôm mặt quay đi chỗ khác. Anh Ba Trắc và anh Dốc cũng tủm tỉm cười rồi anh Ba Trắc tiến tới vỗ nhẹ vào vai đ/c Nhưng trấn an tinh thần: “Đ/c tiếp tục cho bộ đội huấn luyện đi”.

Ở lại cùng đơn vị huấn luyện khoảng 1 tiếng đồng hồ, chúng tôi quay lại chỗ 2 chiếc xe đang đợi. Anh Dốc, anh Ba Trắc và đ/c Vinh đi rồi tôi nán lại với anh Nhưng. Người anh mà tôi rất quý mến đã cùng tôi xông pha bao nhiêu trận mạc. Tôi bắt tay và nhắc khéo anh: “Hồi nãy anh báo cáo theo điều lệnh quân đội của nước nào thế? Một là báo cáo Trung đoàn trưởng, hai là báo cáo Chính ủy đằng này anh lại báo cáo cái “khoảng trống”, chắc anh báo cáo mấy cây cao su à…”. Anh toét miệng cười: “Nếu báo cáo ông này thì ông kia buồn… vậy là một lúc tao báo cáo cả 2…”.( Anh này ngó chân thật vậy mà “ sáng tạo” láu cá quá trời…)

Ngày 7/12/1971, Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn quyết định mở hội nghị quân chính để chuẩn bi cho trận đánh mới. Vậy là Chính trị viên + Tiểu đoàn trưởng cùng Chính trị viên, Đại đội trưởng các C trực thuộc. Trợ lý của 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần. Kể cả số cán bộ của Quân khu xuống dự quân số hội nghị lên tới 70 – 80 người.

“Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định giải phóng Ba Khom, Tăng Cốc” là hai vị trí còn sót lại trên đường số 6, mở rộng vùng giải phóng cho bạn, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiếp tục vận chuyển vũ khí, đạn dược áp sát xuống chiến trường miền Nam. Sau một ngày làm việc, hội nghị kết thúc vào lúc 4h chiều cùng ngày. Trung đoàn tổ chức một bữa cơm tương đối thịnh soạn,  để chiêu đãi cán bộ trong thời gian qua đã lập nhiều chiến công, tô thắm thêm trang sử vàng của đơn vị. Vì có ý định từ trước nên Ban chính trị ủng hộ 1 con heo cũng phải gần 100 ký (lúc này bộ phận nhà bếp nuôi được 4 – 5 con heo). Chỉ có 1 con heo thì có thấm tháp gì, ngoài cán bộ dự hội nghị, còn chiến sỹ phục vụ của 3 cơ quan, các chiến sỹ bảo vệ, riêng Tiểu đoàn 3 để đưa đ/c Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên đi họp đã phải diều động hơn chục chiến sỹ trinh sát súng đạn đầy đủ, vừa bám đường, vừa bảo vệ khi vượt lộ 7 mà thường phải vượt vào lúc trời tối. Vì vậy Ban tham mưu cũng góp phần đóng góp thực phẩm, còn lại Ban hậu cần được”vinh dự” lãnh hết.

Anh Sáu Truyền (nhờ có năng khiếu) nên được chỉ định vào ban tổ chức (đón tiếp khách). Ra dáng một nhân vật quan trọng, anh  đứng ngay ngoài cửa (khu đãi tiệc) dưới bóng cây rậm rạp gần nhà Ban chỉ huy Trung đoàn, một “nhà ăn” dã chiến, bàn toàn bằng tre, ghế cũng bằng tre được vệ binh chuẩn bị từ trước. Cứ 4 người một bàn được lần lượt sắp xếp để chuẩn bị vào tiệc “Chẳng thua kém gì tổ chức tiệc cưới bây giờ”. Tôi thấy anh Sáu Truyền cứ lăng xăng ngoài cửa, bắt tay mọi người, miệng cười tươi, đôi mắt thì him híp: “Mời đ/c vào chỗ này… mời anh vào bàn kia…”….trông rất “oách”… Tất nhiên là mọi người phải chấp hành “mệnh lệnh” của anh rồi. Và sau đó không lâu đã đến giờ khai tiệc.

Món ăn cũng tươm tất và đầy đủ: thịt heo, gà, chó… mỗi bàn còn có một bình tông nước thốt nốt chua để thay cho rượu (loại nước này uống rất ngon nếu uống nhiều cũng say đứ đừ chứ chẳng chơi).

Bữa tiệc đã được độ ½ thời gian bỗng anh Sáu Truyền bỏ bàn tiệc lên vị trí “khán đài” vỗ tay và giọng nói cứ oang oang (lúc đó đâu có loa và âm ly như bây giờ).Anh lại có khiếu làm MC nên tất cả các bàn tiệc mọi người đều hướng về anh.

- Thưa các đ/c, bữa tiệc của chúng ta hôm nay có cái “đặc biệt” nhưng chắc chưa ai nhận ra. Thay mặt ban tổ chức tôi xin trình bày và giới thiệu:

Bàn số 1 là bàn “rỗ” (gồm anh Lợi, anh sáu Hiền…)

Bàn số 2 là bàn “xồm” (anh Trực, anh Bảo…)

Bàn số 3 là bàn “hói” (anh Sáu, anh Cận, anh ba Cao Tông…)

Bàn thứ 4 là bàn “đốm” (anh Dĩ, anh Sâm, anh 2 Tường và đ/c Long).

Nhìn theo tay anh chỉ chúng tôi mới nhận ra mỗi bàn đủ 4 người y như lời anh giới thiệu: 4 mặt rỗ, 4 râu quai nón, 4 trán trợt, 4 đầu bạc hoa râm. Thì ra anh “cậy” mình có chức danh trong ban tổ chức , có “chủ mưu” từ trước nên mới sắp xếp “chu đáo” như vậy. Cả “nhà ăn” bỗng ồn ào và tưng bừng hẳn lên. Nhiều anh em khoái chí với màn đạo diễn hết sức tinh quái của anh Sáu, rót rượu thốt nốt lia lịa. Vậy rồi ai cũng xách ly đến chúc mừng 4 bàn “đặc biệt”. Ba bàn kia thấy các anh tỉnh bơ còn hùa theo như là chấp nhận nữa chứ. Riêng cái bàn “rỗ” thấy mấy anh quạo ra mặt. Anh Sáu Hiền than với anh Lợi: “Ông trời không công bằng chút nào, để mặt tao với mày giống như là tổ ong, cho thằng Sáu Truyền nó cứ quậy hoài”. Cũng nhờ vậy mà chúng tôi ai cũng nhớ mãi: “Bữa tiệc có 1 không hai”này.

Ngày 11/12/1971, Sở chỉ huy tiền phương Trung đoàn được dời về Ô Tà Thóc (nơi đóng quân của Tiểu đoàn 2). Cả 3 cơ quan cũng gọn nhẹ để theo gót Ban chỉ huy Trung đoàn. Ban chính trị chỉ chừa lại số chiến sỹ phục vụ, còn hầu hết các trợ lý đều xuất quân. Từ Sam Sa đến Ô Tà Thóc đường đi bộ mất khoảng 2h đồng hồ, lại nằm trong hậu cứ nên chúng tôi chẳng cần ai dẫn đường cũng chẳng cần phải hợp đồng với cơ quan nào, cứ thế thẳng tiến. Anh Ba Trắc và anh Phạm Dốc có xe Honda nên đã vọt trước, vậy là chỉ còn toàn “phe nhà”. Hơn chục sỹ quan, có một liên lạc và 1 y tá cũng thành một hàng dọc hành quân (do anh Dĩ chỉ huy ).

4h chiều chúng tôi đã đến vị trí quy định. Ban chỉ huy Trung đoàn, cơ quan tham  mưu, cơ quan hậu cần cũng đã có mặt đầy đủ. Được cơ quan tham mưu chuẩn bị từ trước nên hầm của chúng tôi chỉ cách hầm anh Ba Trắc, anh Dốc độ 30m, gần đó là bộ phận thông tin, máy 2 oát, 15 oát và cơ yếu. Vòng bên ngoài là lực lượng vệ binh. Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 cũng được lệnh xuất kích từ lúc nào. 12h khuya bộ đội đã vào hết vị trí tập kết chỉ cách trận địa địch khoảng 150m bí mật đào công sự ém quân.

Tiểu đoàn 1 hướng tây Ba Khom.

Tiểu đoàn 2 từ hướng đông Ba Khom

Hỏa lực 12 ly 8 và DK75 được tăng cường cho 2 tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy. Sau lưng Tiểu đoàn 2 là trận địa cối 82 của Trung đoàn, trận địa cối 120 ly và DKB của Quân khu tăng cường.

Cứ điểm Tăng Cốc được giao cho 1 đơn vị của Sư đoàn 9 đảm nhiệm, các đơn vị còn lại của Sư đoàn 9 có nhiệm vụ phòng ngự, chặn viện từ Xi Kun – Pà Ao không cho địch về ứng cứu Ba Khom và Tăng Cốc. Đây là trận đánh hợp đồng tác chiến của nhiều đơn vị nên thời gian hành động đòi hỏi rất nghiêm ngặt, độ chính xác gần như tuyệt đối.

Đúng giờ G (ám chỉ cho giờ hợp đồng nổ súng) tức 4h sáng ngày 12/12/1971, từ Sở chỉ huy Trung đoàn phát lệnh khai hỏa.

Vậy là vòng quanh căn cứ Ba Khom là những ánh chớp của các trận địa pháo cầu vồng, pháo bắn thẳng của ta nhả đạn. Cứ điểm Ba Khom trải dài khoảng 1km cặp 2 bên quốc lộ số 6, nhì nhằng ánh lửa và những âm thanh ì ầm không ngớt. Pháo của Sư đoàn 9 cũng đã nhả đạn vào Tăng Cốc, Xi Cun, Pà Ao.

5h30, từ 2 hướng, Tiểu đoàn 1 và 2 được lệnh đánh chiếm trận địa địch. Các hỏa điểm của địch phun đạn về hướng bộ đội ta chẳng khác gì vãi trấu. Đạn M79, lựu đạn của địch nổ tứ tung vào đội hình xung phong của bộ đội nhiều chiến sỹ ta đi đầu vướng mìn, hy sinh ngay tại hàng rào.

6h30, từ ngoài trận địa báo về, Tiểu đoàn 1 vẫn còn ngoài hàng rào, bộ đội ta đã có 1 số hy sinh và bị thương.

Hướng Tiểu đoàn 2, bộ đội ta vẫn còn nằm tại chỗ chịu trận vì vấp phải bãi  mìn và hỏa lực dày đặc của địch, rất nhiều đ/c đã hy sinh và bị thương.

Tôi nhận rõ nỗi lo âu trên khuôn mặt của 2 vị chỉ huy (anh Ba Trắc và anh Phạm Dốc) đôi mắt đã thâm quầng vì suốt đêm không ngủ, những nét nhăn hằn sâu hơn trên vầng trán và 2 khóe mắt. Anh Dốc cứ chau mày, đưa bàn tay phải vỗ vỗ trên vầng trán như đang muốn “nặn” ra một điều gì… Anh Ba Trắc vẻ mặt suy tư chấp tay sau lưng đi đi lại lại quanh căn hầm bé nhỏ. Bọn tôi gồm có anh Dĩ, cả đ/c tham mưu trưởng, đ/c trợ lý tác chiến, mặt cũng đầy “tâm sự” chẳng thua kém gì các anh.

Bất ngờ, anh Ba Trắc nói với anh Phạm Dốc: “Nếu cứ để cho bộ đội ta xung phong giữa ban ngày thì thương vong sẽ vô cùng khủng khiếp. Phải dùng cách khác thôi”. Anh Phạm Dốc trả lời: “Tôi cũng đang suy nghĩ điều đó”. Vậy là chỉ sau ít phút hội ý, mệnh lệnh của anh Ba Trắc đã được các đ/c thông tin chuyển xuống các Ban chỉ huy tiểu đoàn: “Cho bộ đội ém quân tại các công sự, dùng hỏa lực DKZ, 12 ly 8, B41, B40 tiêu diệt các hỏa điểm địch, đạn nhọn chuyển sang bắn tỉa. Cối 82 và 61 tiếp tục bắn phá trận địa địch (lúc giải phóng cứ điểm Ba Rài, ta lấy được rất nhiều đạn 81 và 60 của địch nên pháo của ta cứ thỏa sức gầm thét).

9h sáng, Sở chỉ huy Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 2 dùng chiến thuật “đầu nhọn, đuôi dài” (chiến thuật hình con rắn, đột kích trên phạm vi hẹp, thẳng vào vị trí trung tâm) từ hướng đông nam Ba Khom. Vậy là cối 120 ly, DKB, cối 82, cối 61, DKZ75, DKZ 57, 12 ly 8 được dồn sang hướng này. Trận địa trước mặt C7- D2 mịt mù khói lửa, nhiều đoạn rào dây thép gai của địch bị pháo ta bầm nát. Sau 15 phút bắn phá, pháo binh ta được lệnh chuyển làn, Đại đội 7 như một mũi mác xuyên thẳng vào “tim” địch . Tiểu đoàn 1 và các đại đội còn lại của Tiểu đoàn 2 được lệnh tiếp tục tấn công …

Bị cú đánh bất ngờ vào giữa trung tâm, toàn bộ quân địch lớp đầu hàng, lớp bỏ chạy thục mạng. Đến 11h trưa ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Bộ đội ta được lệnh rút ra ngoài, Tiểu đoàn D4K vào thu dọn chiến trường và tiếp tục chốt giữ vùng ta mới vừa giải phóng. Tiểu đoàn 1 được lệnh phát triển về hướng Tăng Cốc để chi viện cho đơn vị bạn. Sư đoàn 9 đang đánh chiếm cứ điểm Tăng Cốc, chặn viện từ hướng Xi Kun và Pà Ao.

17h cùng ngày, căn cứ Tăng Cốc cũng buông vũ khí đầu hàng, các cánh quân tiếp viện của địch bị Sư đoàn 9 của ta chặn đánh tan tành phải co đầu về Xi Kun và Pà Ao phòng thủ.

Vậy là đến giữa tháng 12/1971, chiến dịch Chen La 2 do ta khởi xướng đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Tiêu diệt các cứ điểm của địch trên đường số 6, giải phóng một vùng đất đai cho nhân dân CPC, tạo ra một hành lang rộng lớn làm thay đổi thế và lực giữa ta và địch, tạo nhiều thuận lợi cho cuộc cách mạng của nhân dân 2 nước. Trong trận đánh này Trung đoàn 207 cùng các đơn vị trong Quân khu phối hợp với Sư đoàn 9 đã giải phóng thị trấn Ba Khom và cứ điểm Tăng Cốc tiêu diệt nhiều sinh lực địch (đặc biệt trong trận đánh này có đ/c Trau, người dân tộc thiểu số) xạ thủ B40 của Đại đội 7, Tiểu đoàn 2 đã bắn 6 quả đạn, diệt 6 hỏa điểm địch tạo điều kiện cho đơn vị thọc sâu giành thắng lợi. Đ/c Trau được đề nghị tặng thưởng huân chương chiến công giải phóng hạng nhất. Được cơ quan tuyên huấn triển khai cho đ/c Hùng (họa sỹ) phác họa bộ tranh “XẠ THỦ B40 KIỆT XUẤT”…

 

(còn nữa…)

LSV (g/th)

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":

video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Có thể bạn sẽ thích