Miền Đông Nam Bộ khói lửa

28/05/2016,20:07:33 | 1190 | 1

Miền Đông gian lao mà anh dũng

 

MIỀN ĐÔNG NAM BỘ KHÓI LỬA

H.B, cựu phóng viên báo Quân Giải phóng

****************


 

Ảnh minh họa: Tượng đài tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh tại chiến khu Đ


****************

 

Tôi được tập trung đi B tháng 9/1965 tại trường Bổ túc văn hóa Công Nông Trung ương, tọa lạc gần ga tàu hỏa Giáp bát, gọi là “Trường cán bộ đặc biệt của Bộ Giáo dục” (trường 105).


Suốt hai tháng trời, ngày chỉnh huấn, đêm hành quân, mang ba lô gạch đi bộ xuống Văn Điển rồi trở về, quãng đường khoảng 10km, trọng lượng cõng trên vai 30kg. Đến giữa tháng 11 thì lên đường đi B. Rủi thay, trước ngày lên đường thì xe chở cán bộ đi họp Ban Thống nhất Trung ương ra tới đường sắt bị tàu hỏa tông phải, 5 người bị thương, 2 người chết. Thế là chưa đi B đã có liệt sĩ. Đó là các anh: Phạm Ngưng và Huỳnh Quang Chế. Họ được chôn tại khu A Nghĩa trang Văn Điển. Người lái xe là chiến sĩ thi đua Điện Biên Phủ năm xưa, bị án 3 năm tù giam. Thật họa vô đơn chí!


Lại chỉnh huấn, lại hành quân. Có anh Hai Văn người miền Nam, khi giảng bài rất thích câu nói của Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Chúng ta biết khởi sự chiến tranh thì chúng ta cũng biết kết thúc chiến tranh”.


Ngày 5/11/1966, nhân Thủ tướng Liên Xô Côxưghin thăm Việt Nam, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc. Thế là đoàn chúng tôi vội lên đường. Buổi chiều chạng vạng, đoàn xe 9 chiếc Molôtôva lao qua cổng trường. Anh Lê Toàn Thư phó ban Thống nhất Trung ương cùng toàn ban Giám hiệu đứng tiễn. Đứng cạnh anh Thư là một thiếu phụ xinh đẹp cao lớn, môi son má phấn, tóc phi dê, áo vét tím, quần lĩnh đen, dép cao gót, đi tất ni lông màu trắng. Anh em truyền tai nhau: “Chị Kỳ, vợ anh Văn Tiến Dũng Tổng Tham trưởng, phụ trách giao liên cơ giới đấy !” Chị lấy khăn tay trắng vẫy chúng tôi lưu luyến, thân tình. Lần đầu tiên trong đời tôi biết chị và trông thấy tất ni lông, nó mới đẹp, mới sang làm sao ?


Đêm ấy chúng tôi đi suốt tới sáng hôm sau thì nghỉ chân ở một làng ven sông Nhật Lệ - con sông thơ mộng, nước trong thấy đáy, ngọt lịm. Các cô gái ở đây ăn nước sông, tắm nước sông, da trắng như ngó cần, cao lớn phổng phao… Đi một đêm nữa là tới Trạm Ho. Đến đây là hết tiêu chuẩn quân nhân xã hội chủ nghĩa 6 hào một ngày, bắt đầu hưởng tiêu chuẩn Quân Giải phóng miền Nam dân chủ nhân dân, tức “Có gì ăn nấy”.


Sau 3 tháng 15 ngày leo núi Trường Sơn (cứ đi 5 trạm thì được nghỉ 1 ngày), chúng tôi vào tới đất “Ông Cụ”, tức căn cứ Trung ương cục miền Nam, đóng ở chiến khu Dương Minh Châu, bắc Tây Ninh, còn gọi là R, tức là Rừng, là Rét (sốt rét). Ai đi B cũng phải “đóng nghĩa vụ”, đó là sốt rét. Sốt rét tức là rét run người nhưng ướt đẫm mồ hôi, là không ngủ được, không ăn được, không bài tiết được. Tóm lại, cái gì cũng không.


Rừng Tây Ninh tháng 4, mùa khô, ve kêu điếc tai, lá vàng phủ kín lối đi, cây cối trơ trụi, nóng ghê người. Nơi này vừa trải qua trận càn lớn của lính Mỹ và lính Hàn quốc (gọi là lính Pắc Chung Hy), nên chẳng có gì ăn. Bọn lính “Củ sâm” Pắc Chung Hy rất hóm. Chúng cướp được kho dầu tây của ta bèn khuân dầu đến các kho gạo, đậu, đường, sữa (cũng cướp được của ta), mở từng bao, cậy từng thùng, khui từng hộp rồi đổ dầu tây vào, chứ chẳng như lính Mỹ chế xăng đốt sạch. Bởi thế ăn thứ gì cũng nồng nặc mùi dầu tây. Anh Trần Ngọc Vĩnh, người bạn Khu Học xá năm xưa, thương tôi sốt rét sắp ngoẻo bèn nấu chè đậu xanh cho tôi ăn. Than ôi, đậu xanh đầy dầu tây, đường thốt nốt cũng vậy. Thế là khi húp vào, tôi nôn thốc nôn tháo ra hết.


Vì hành quân dài ngày, đường xa nên vào đến đây ai cũng thiếu chất, nhất là chất ngọt, cho nên ai cũng nấu chè ăn. Chè có dầu nên phải đun lâu mới đỡ mùi. Chỗ này nấu, chỗ kia ninh. Trời nóng, chui xuống hầm mà ninh, vậy là khói lên nghi ngút lúc nào chẳng biết. Một chiếc đầm già (máy bay trinh sát cánh quạt L19) thấy khói liền sà xuống, liệng một vòng, thả trái điểm tức lựu đạn khói màu da cam, gọi 3 chiếc phản lực F105 bổ nhào xuống, ném bom na pan trúng giữa căn cứ. Thày Châu dạy trường Trung cấp Sư phạm Hải Phòng tử nạn; thày Hải dạy trường Trung học phổ thông Gia Lương (Phú Thọ) bị trọng thương, cả hai đều là dân Khu Học xá chúng tôi. Thế là chưa đi B đã có liệt sĩ, chưa nhận công tác đã có liệt sĩ Châu. Anh Châu người Bắc, anh Ngưng, anh Chế người Nam. Kẻ Bắc người Nam đều là máu đào đổ ra.


Phần tôi, lặn được xuống chiến hào là lịm luôn, chẳng còn biết gì nữa. mãi tới nửa đêm mới có cặp song sinh Thu-Đông (con gái anh Năm Khánh, phiên dịch tiếng Anh của Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam) tới vần tôi lên võng rồi khiêng đi bệnh viện K25 đóng trên đất Cămpuchia. Trời tối, đường hẹp, hai bên đường toàn cây quýt dại, gai dài cả tấc, nhựa rất độc. Hai em vừa thấp vừa bé, lại mới cắt sốt, thành thử loạng choạng khiêng tôi đi, võng cứ lắc lư như “Ru hồn anh vào cõi mộng gai”. Cứ lắc sang trái, tôi hứng một mũi gai, chao sang phải, lại một mũi nữa. Khi tới K25, tôi bị cả thảy 26 mũi. Có điều lạ là khi vừa tới nơi, tôi cũng cắt cơn sốt luôn. Có lẽ gai quýt dại có nhựa độc chữa được sốt chăng ? Hay là mải lo tránh gai đâm, sợ vã mồ hôi mà tôi hết sốt rét ???


Năm ngoái (2005), coi ti vi nhân 50 năm ngày thành lập căn cứ Trung ương, tôi lại trông thấy cặp song sinh Thu-Đông. Các em bây giờ tuổi đã 60, mập ú như hột sầu riêng. Nhìn các em đang say sưa giữa bạn bè, tôi lại nhớ cái đêm hai em khiêng tôi năm nào.
 

* * *
 

Ra Viện, tôi nhận quyết định nhập ngũ, làm phóng viên báo Quân Giải phóng Miền Nam. Vậy là cuộc đời rẽ lối từ đây. Sau khi ở Cục Chính trị vài ngày để nhận quân trang, vũ khí, lương thực, chúng tôi xuống đồng bằng thâm nhập thực tế. Đúng ra khi ở ngoài Bắc, giáo viên cấp III như tôi đã hết tập sự, lương 65 đồng một tháng thì khi chuyển sang quân đội phải mang hàm thiếu úy, đại đội trưởng. Nhưng ở trong này, vì chưa ra trận nên tụi tôi chỉ được phong hàm trung đội trưởng, ngang chuẩn úy, cho nên không có súng ngắn. Thay vào đó, mỗi ông nhà báo được phát một khẩu “Bá Đỏ”, tức súng trường K44 bắn phát một; súng này bắn đạn bự 7 ly 62, cứ bắn một phát thì vai đau cả tuần.


Tôi lên đường. Qua suối Bà Hảo tới làng cao su Bến Củi. Ở đây toàn dân Thái Bình di cư. Họ thích ăn khoai lang luộc, uống nước chè tươi. Tôi vào nhà cụ Ba Thứa tuổi đã 85. Cụ quê huyện Thái Ninh, xã Thái Thịnh. Năm Ất Dậu 1945, cả làng phiêu bạt tứ xứ vì nạn đói. Cụ vào đây năm ấy, làm thợ cạo mủ cao su đã 20 năm. Cụ cứ nắm tay tôi hỏi chuyện quê. Khi tôi nói Thái Bình hiện đã hết đói, đã là quê 5 tấn, cụ bảo: “Nhà bác nói thế để già này vui thôi, chứ đất cát pha, chỉ trồng được mỗi thứ hành lá, 5 tấn thế nào được ?” Tôi hỏi chuyện làm ăn trong này, cụ bộc bạch: “Chả dấu gì bác, dưới thời cụ Ngô, bốn phương thái bình, bà con dễ thở lắm, không như thời ông Thiệu, ông Kỳ này.”
 

Mua thêm đường và mỳ chính, chúng tôi cắt rừng Bời Lời, xuống ấp Bà Nhã ở ven sông Sài Gòn. Chủ nhà là anh chị Ba Nhựa rất quý bộ đội, có con gà trống hoa to nhất đàn, mào đỏ chân vàng, ai trông cũng thích, vậy mà cứ đè cổ nó ra cắt tiết nấu cháo luôn. Trong một bài phát biểu trước cán bộ đi B, Tổng Bí thư Lê Duẩn có nói: “Đồng bào Miền Nam nghèo văn hóa nhưng giàu tình nghĩa. Ai đến nhà chơi, bao giờ cũng bắt con gà con vịt bự nhất, ngon nhất làm thịt đãi khách, không tính toán.” Câu nói này của Anh quả là đúng.
 

Thấy chị Ba bị què chân, đi lại tập tễnh, tôi thường giúp chị những việc nặng. Chị bảo tôi: “Cái chân này hỏng từ hồi ở tù Phú Lợi. Nó uýnh chị tối ngày, sáng đêm luôn, cứ nhè hai chân mà vụt roi cá đuối, giờ bà con kêu chị là ‘Ba Cà nhắc’ đấy”. Chị thủ thỉ: “Hồi 9 năm, anh Ba làm xã đội trưởng An Tịnh, chị làm cán bộ phụ nữ huyện Trảng Bàng. Hòa bình năm 1954, anh chị được phân công ở lại đấu tranh công khai. Ai dè thằng Truyền, công an của ta theo giặc, dẫn lính đi xuồng lên, cùng một đêm nó bắt anh chị đưa về Tây Ninh điều tra. Đánh riết không moi được gì, chúng đưa anh chị tới nhà tù Phú Lợi. Năm 1963, Dương Văn Minh đảo chính lật đổ Diệm, vợ chồng chị mới được tha về. Thấy mình tuổi cao sức yếu, anh chị xin tổ chức được ở nhà mần ruộng, không tham gia công tác nữa”.
 

Nghe nói tù Phú Lợi, tôi hỏi luôn: “Chị Ba à, hồi ở Bắc, em nghe nói địch đánh thuốc đầu độc 6.000 tù Phú Lợi, có không chị ?” “Chết cha, ai nói xạo vậy à ? Đâu có ? Chuyện ấy không có đâu. Chị ở đó gần 10 năm đâu có thấy !” Thấy tôi ngạc nhiên, chị Ba thong thả: “Cũng có bữa, Tổng thống Phi Luật Tân ghé thăm Phú Lợi, tặng nhà tù ít thịt hộp. Nghe nói phân trại 5 ăn vào bị ói mửa chi đó thôi. Sau cả trại ‘làm reo’ phản đối, nó sợ quá, phải thay bằng đậu bún (đậu đũa) xào thịt bò tươi, không cho ăn thịt hộp nữa. Có vậy đó thôi !”
 

Theo tôi biết, nhà tù Phú Lợi còn có tên “Trung tâm cải huấn”, nhốt tới gần 10.000 tù nhân. Ở miền Nam, nó là lớn nhất. Mỗi lần có dịp, Ngô Đình Diệm thường dẫn khách quý tới thăm để khoe công lao của mình đã cải huấn được cán binh cộng sản trở về với quốc gia, dân tộc. Thực ra, Phú Lợi là nơi chiến sĩ và đồng bào ta đấu tranh mạnh mẽ nhất, đến nỗi cứ mỗi dịp rằm tháng bảy “Xá tội vong nhân”, địch phải cho Hội Chữ thập đỏ quốc tế đến phát quà cho từng người. Quà là hai bao thuốc lá Rubi, một ký đường, hai hộp sữa và một con vịt quay. Chị Ba kể với tôi như vậy, rồi chị kêu lên: “Cha nó cũng không dám đầu độc anh em mình đâu, chú đừng tin !”
 

Sau nửa tháng ở nhà anh Ba, chúng tôi theo du kích xuống ấp Suối Sâu, xã An Tịnh. Vì phải qua đồng trống nên chập tối mới xuất phát. Mò mẫm mãi, tới 5 giờ sáng mới đến nơi. Hai anh em tôi vừa rửa chân tay xong, định mắc võng ngả lưng thì bỗng súng báo động nổ vang trời. Lần đầu xuống làng, bốt địch lại chỉ cách có trăm mét nên tôi sợ quá, lúng túng tháo mãi mới cuốn được võng, cởi quần mãi mới xong, túm tất cả các thứ lại cho vào bòng. Đang loay hoay thì thằng Năm du kích hợp pháp (vì nó ít tuổi, khi địch vào nó không phải chui hầm bí mật) chạy tới. Nó la to: “Địch càn, có xe tăng. Mấy chú theo cháu ra công sự !” Nói rồi nó phóng giò chạy như bay ra lũy tre rìa làng.
 

Làng An Tịnh đất pha cát, chỉ trồng rặt một thứ đậu phộng (lạc). Chỗ nào không trồng là cây xấu hổ mọc theo, gai tua tủa. Thằng Năm suốt đời đi chân không nên da bàn chân nó dày như mo nang, gai nào xuyên thủng được ? Bọn tôi đi dép cao su từ Bắc vào, da bàn chân mỏng dính, chịu sao được gai xấu hổ ? Bởi vậy thoáng một chút đã mất hút bóng thằng nhóc dẫn đường. Đúng lúc ấy chiếc xe tăng M48 dẫn đường đã lù lù lao tới. Ở An Tịnh có lệ khi Mỹ càn thì đàn ông chạy sang ấp khác, du kích ra công sự hoặc xuống địa đạo, còn đàn bà con gái thì ăn mặc thật đẹp, tụ nhau thành toán lớn một chỗ, vừa bảo vệ mình vừa không cho chúng cán xe lên cánh đồng đậu phộng. Hình thức đấu tranh là nắm tay nhau nằm trước đầu xe. Thực ra chỉ có bọn Mỹ mới sợ các bà thôi, cọn bọn ngụy thì chúng nó xúm lại khiêng các cô vô nhà giở trò đồi bại; các bà thì bị chúng trói lại thành dây nhốt một chỗ. Hôm nay Mỹ càn nên các má các chị các cô ngồi sẵn trong nhà chờ chúng tới.
 

Tôi và anh Thịnh đang nhớn nhác tìm thằng Năm thì có chị phụ nữ mặc áo trắng quần đen đội nón lá chạy tới nắm tay tôi nói nhỏ: “Mấy anh bình tĩnh nghe, cứ theo tôi là tới công sự. Chớ có láng cháng mà đạp phải chông cài của du kích đó !” Chị chạy trước, chúng tôi chạy theo sát lưng. Lát sau, thằng Năm quay lại đón. Nó cười khì khì: “Cháu nghĩ mấy chú theo kịp nên không ngó lại sau. Khi nào về ấp, mấy chú phải tập đi chân không cả tháng rồi hãy về nghe !” rồi nó lại co giò chạy mất hút. Chúng tôi cứ nhìn cái quần cụt màu đỏ của nó mà chạy theo. Chạy qua căn nhà lá dừa, hai thằng nghe các má la dữ quá: “Trời đất, ông bà, cha mẹ ơi ! Mấy đứa ngoài Bắc vô kìa, lẹ lên mấy con ơi !” Có bà má chửi to: “Tổ cha thằng Năm nghe, mày bỏ rớt mấy anh rồi kìa, tổ cha mày !”… Rồi má vừa khóc vừa la: “Chết rồi, mấy con ơi. Xe nó tới kìa. Lẹ lên, lẹ lên, mấy con ơi !”… Đến bây giờ, gần nửa thế kỷ đã trôi qua, các má đã không còn ở trên đời này, vậy mà tiếng khóc, tiếng la ngày ấy của các má vẫn văng vẳng bên tai tôi, gieo vào lòng tôi một kỷ niệm đẹp về tình “quân dân cá nước”.
 

Dân vùng này không làm cầu tiêu, họ bậy xuống mương tre và mương vườn. Lính Mỹ, chó Mỹ rất sợ phân người, bởi vậy du kích An Tịnh dùng phân người để ngụy trang công sự, cứ hất phân tươi lên bụi tre và các lối đi vào hầm bí mật. Hầm lại đào trong bụi tre gai rậm rạp, nên khi vào hầm, trước hết bị phân dính đầy người, thứ nữa là bị gai tre móc toạc thịt, tóe máu. Thằng Năm chui vào trước, nó mở nắp hầm cho anh Thịnh xuống rồi bảo tôi: “Khi nào cháu tới rỡ nắp mới được lên, nghe !” rồi nó phóng đi luôn. Nó còn bận chạy theo xe Mỹ lượm kẹo cao su. Tụi Mỹ đi càn bao giờ cũng mang theo nhiều kẹo cao su để thẩy cho lũ trẻ rồi cười giỡn với chúng.
 

Vai tôi khá nở nên không sao lọt cửa hầm, chân cứ lơ lửng không chạm đất vì hầm sâu. Đang chẳng biết làm sao thì xe nó lướt tới. Bữa đó chúng nó đi trên 50 xe, chạy lên ấp Cây Dương đánh nhau với tiểu đoàn Quyết Thắng của phân khu I. Chúng chạy xe sát rìa làng, vì đồng bào không cho chạy ngoài đồng sợ xe cán hư đậu phộng. Thành thử tôi được một bữa no mắt ngắm bọn Mỹ hành quân.
 

Đến sẩm tối thì được lên hầm. Anh em tôi ra giếng tắm. Mấy cô du kích đưa xà bông để gội đầu. Các cô cứ cười rũ ra vì tụi tôi da trắng nhởn nhưng đầu lại vàng khè phân người. Mấy cô kêu tụi tôi là “hai anh đít trắng mình vàng” từ bữa đó.
 

Đồng bào ở đây rất nghèo, vì chiến tranh nên không bán được đậu phộng. Do đó du kích chỉ được ăn cơm trắng với muối lạc, khá lắm mới có con trít rang muối. Con trít là con cánh quýt ngoài Bắc ta, chúng bám đen ngoài vườn trồng dưa leo và khổ qua (mướp đắng), chỉ việc lấy vợt hớt lẹ là có bữa trít ăn mệt. Một hôm có anh “Ba Chi bộ” ghé chơi. Tên anh là Ba Cỏn, vì làm bí thư chi bộ xã nên kêu “Ba Chi bộ”. Anh bị suyễn nặng, cứ thở khò khè. Anh mở tiệc chiêu đãi chúng tôi. Rượu đế nhậu với khế dầm muối, đường, ớt cùng món trít rang và rau bạc hà (dọc mùng). “Ba Chi bộ” tuyên bố: “Nào, chúng ta biết khởi sự chiến tranh thì cũng biết kết thúc chiến tranh, zô !” Xem thế đủ biết câu nói của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã len vào từng xã của Miền Nam. Tổng Bí thư Lê Duẩn quả có biệt tài thu hút dân Nam Bộ.
 

Du kích An Tịnh đánh giặc như chơi. Một bữa Tư Tời đội trưởng du kích đưa tôi đến gặp Út Lén vừa vào chợ Suối Sâu diệt địch về. Út Lén 25 tuổi, da đen ròn, mắt lá răm. Hỏi chuyện, Út kể: “Nhận lệnh chú Ba chi bộ, em xách làn trái cây vô chợ tìm thằng Lự, thấy nó vô tiệm hủ tiếu, em bám theo. Em mặc hai áo, ngoài xanh trong vàng. Nó kêu hủ tiếu lên, cúi xuống ăn. Em rờ khẩu Ru-lô (súng ngắn ổ quay, bắn một phát thì ổ sẽ quay sang viên thứ hai; cả ổ 6 viên đạn, vì thế còn gọi là súng sáu. Nếu viên đầu bị kẹt thì đã có viên thứ hai sẵn sàng. Súng này thường dùng để ám sát vì nó không hay bị kẹt đạn như súng thường; nhưng lại rất nguy hiểm vì không có khóa an toàn, nhiều khi súng rớt xuống đất cũng nổ). Thằng Lự ngẩng đầu nhận ra em, nó kêu to: ‘Út mày … ???’ Thấy em chĩa súng vào nó, nó há hốc mồm: ‘Mày làm chi vậy, Út ?’ Em quát to: ‘Tao bắn mày’ rồi bóp liền hai phát. Thằng Lực gục ngay xuống bàn. Em thẩy súng vào thùng nước lèo, cới áo xanh ra, bận áo vàng, rông tuốt khỏi chợ”.
 

Kể đến đây, Út Lén đứng dậy cuốn võng cho vào bòng, chào tôi và Tời rồi đi luôn. Tôi hỏi Tư Tời: “Sao Út có vẻ buồn thế ?” Tời nói: “Thằng Lự trước là chồng Út đó. Cách đây 3 năm, nó theo con Oanh bán đồ trong chợ và bỏ về chiêu hồi. Địch cho nó lon thiếu úy, cho làm trưởng bót Suối Sâu để tiện đánh ta. Từ bữa nó chiêu hồi, cơ sở của ta trong đó bật bãi hết. Vậy ta mới tuyên nó án tử hình, giao cho Út thực hiện”. Đúng là “Nợ nước thù nhà”. Không ai thực hiện tốt việc này bằng Út. Tư Tời bảo tôi: “Tụi em hoạt động từ hồi Đồng khởi 61 kia (Tây Ninh đồng khởi năm 1961). Lúc đầu đông lắm, giờ chỉ còn 16 thằng”. “Hy sinh nhiều à ?”. “Không phải đâu. Từ trận Mỹ càn ‘Cái Bẫy’ đến nay, chiêu hồi hết 9” (tháng 1/1966, địch điều 12.000 quân Mỹ và chư hầu càn quét vùng Bắc Củ Chi và Trảng Bàng, Tây Ninh, khiến ta tổn thất nặng nề - du kích mất dân, dân mất đất, nhiều người thấy ác liệt bèn bỏ về Sài Gòn làm ăn). Tôi hỏi: “Nó ra chiêu hồi có chỉ hầm bí mật không ?” “Sao lại không ? Bữa nay Mỹ càn nên mới bố trí anh Tám xuống hầm, chứ ngụy càn thì phải đưa anh về Bời Lời thôi. Hầm nào tụi chiêu hồi chẳng biết, vì chính tụi nó đào mà !” Tôi rùng mình: “Thế có tóm được thằng nào không ?” “Có thằng Hai Sẹo, tuần trước đó.” “Nó đâu ? Tao gặp được không ?” “Còn đâu nữa mà anh đòi gặp.” Rồi Tư Tời kể: “Thằng Hai Sẹo tên Cam, nó uýnh nhau dữ lắm, bị thương rạch má nên mới kêu Hai Sẹo. Có con Khánh y tá quận đội Trảng Bàng của ta, dễ thương; thằng Hai mê mệt, rủi con nhỏ chê nó có sẹo nên không ưng. Bám con nhỏ mãi không được, nó bỏ đi chiêu hồi bót Suối Sâu, được thằng Lự cho làm thượng sĩ, phó chỉ huy. Tuần trước nó dẫn lính càn vô ấp. Rủi bữa ấy con Khánh về thăm má. Thằng Hai bắt được con Khánh đưa con nhỏ vô bụi cây, tính hãm; không dè con nhỏ bự con vùng chạy được. Thằng Hai vụt lựu đạn theo, lựu đạn vướng cây văng lại nổ, làm nó gãy giò. Đúng lúc đó tụi tôi nổ súng, lính chạy hết vô bốt bỏ mặc Hai Sẹo. Ta đưa nó về, mở tòa tuyên án tử hình. Mình ít đạn, chi bộ quyết định dùng lê đâm nó 14 nhát, ta có 14 người mà, rồi đạp xuống hố, tưới xăng cho con Khánh đốt. Mật nó bự lắm, lấy ngâm rượu cho chú Ba chữa suyễn huyết.” Tôi bảo: “Lấy cuốc đập bể đầu nó là được rồi. Tụi bay đâm nó 14 nhát là hơi nặng tay.” Tời trố mắt: “Nặng tay ư ? Trước khi con Khánh vùng chạy, nó đã kịp cắn đứt nửa lưỡi con nhỏ rồi, anh biết không ?”
 

Sau đợt ấy, tôi về Bời Lời có gặp Khánh ở trạm quân y. Khánh cao lớn, trắng trẻo, ít nói, chắc vì lưỡi ngắn nên ngại nói.
 

Tháng 6/1966, mùa mưa. Về tới cứ, tôi nhận lệnh đi thường trú sư đoàn 5 chủ lực, đóng mãi ngoài Bà Rịa. Từ Tây Ninh xuống Bà Rịa chỉ đi 10 ngày là tới. Vậy mà vì mưa to, tôi phải đi mất 22 ngày, vượt qua 7 cửa tử mới đến nơi. Bảy cửa tử là:
 

• Đường 13 Sài Gòn – Nông Pênh,
• Đường 14 Sài Gòn – Tây Nguyên,
• Đường 1 Sài Gòn – Hà Nội
• Sông Sài Gòn
• Sông Bé,
• Sông Đồng Nai.

 

Hình như còn thiếu Đường 20 Sài Gòn - Đà Lạt nữa [@LSV]

 

Muốn vượt đường thì phải chờ tới tối, hai tổ giao liên gác hai đầu, tổ giữa trải tấm ni lông. Mọi người tụt dép, đi chân không, chạy vụt qua. Giao liên cuốn ni lông lại, lủi thật mau vào rừng. Phải vượt vào ban đêm, vì ban ngày xe đò chạy, có cả xe thám báo đi theo. Phải trải ni lông vì không được để lại dấu chân. Địch có thể đếm dấu chân để biết nhiều hay ít người qua, cán bộ dân chính hay chủ lực mang súng nặng v.v… Muốn vượt sông phải có tấm ni lông rộng 1 m, dài 2 m, gọi là tấm tăng, vừa để che mưa khi mắc võng ngủ, vừa để bọc thây nếu hy sinh, vừa làm phao bơi: cho tất cả súng đạn, gạo mắm vào tấm ni lông rồi túm lại, lấy dây dù võng cột thật chặt để làm phao bơi. Khi qua sông, tay giữ súng, tay túm phao, bơi kiểu ếch, thế là sang được sông. Tôi ở Miền Đông chục năm mà chưa bao giờ được qua bất cứ con sông nào bằng xuồng. Chỉ độc nhất có lần vượt sông Rạch Tra ở Củ Chi tiến về Sài Gòn thì mới được đi xuồng, vì hôm ấy đi ghé trong đội DKZ75 có súng nặng; còn lại đều vượt sông bằng phao bơi. Vượt sông vào mùa khô thì đơn giản thôi; vượt vào mùa mưa thì đúng là vượt vũ môn, tử địa, vì rất hay bị lủng phao bơi.
 

Một chiều mưa trắng rừng, tôi tới sông Bé. Nó chỉ bé vào mùa khô thôi, về mùa mưa, con sông rộng gấp chục lần dòng cũ. Nhìn con nước đục ngầu cuồn cuộn réo giữa ngàn cây chỉ còn trông thấy ngọn cây mà ớn cả người. Cậu giao liên ngao ngán dặn cả đoàn: “Mấy anh nhớ tránh xa tre gai nghe ! Dính vô, mình coi như toi mạng đó. Hôm trước có tốp cán bộ từ Bắc vô, khi vượt sông đụng tre gai lủng phao bơi, 4 người hy sinh, vớt được một xác, chôn chỗ kia kìa !”
 

Việc này tôi đã biết từ trước khi đi. Tranh thủ mọi người mải mê cởi đồ, tôi bẻ một cành sim đi đến ngôi mộ. Tấm bia gỗ ghi rõ: “Trần Ngọc Thoa, quê Hải hưng, cấp bậc tiểu đoàn trưởng (tức đại úy), hy sinh 15/6/1966”. Hồi tôi học Đại học Sư phạm Hà Nội, Thoa là bí thư Đoàn trường. Cứ mỗi lần bí thư Đảng ủy nhà trường Đỗ Đức Uyên lên nói chuyện với sinh viên xong, bao giờ cũng đến Thoa tiếp lời. Đám sinh viên gọi anh là “Cậu Cả Thoa” , vì anh năng nổ tốt bụng. Tôi tần ngần bên mộ Thoa, cắm cành sim viếng bạn, chợt nhớ câu thơ của Hữu Loan:
 

Màu tím hoa sim, tím chiều hoang biền biệt
 


 

Gió hiu hắt (hề), sông Địch lạnh tê,
Tráng sĩ một ra đi (hề) không trở về

 

trong bài thơ tiễn Kinh Kha lên đường đi giết Tần Thủy Hoàng của Cao Tiệm Ly làm cách đây hơn 2.000 năm.

 

****
 

Sư đoàn 5 ra đời tại chiến khu Đ ngày 23/11/1965, lúc ấy chỉ mới có hai trung đoàn đóng quân cách nhau gần trăm cây số. Trung đoàn 5 (trung đoàn trưởng là Út Thới, nay là Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), chính ủy là Ba Cúc (Thiếu tướng Nguyễn Văn Cúc sau này) đa phần là lính miền Tây Nam Bộ, cá rô kêu “cá gô’, cái rổ gọi là “cái gổ”. Bởi thế có tên “Trung đoàn Cá Gô”. Lúc ấy trung đoàn đang dưỡng quân ngoài Tánh Linh, Bình Thuận, rất thiếu đói, gần hết quân số sốt rét. Anh em bỏ ngũ kéo cả trung đội về U Minh chiến đấu (gọi là đảo ngũ chứ không phải đào ngũ).
 

Trung đoàn 4 thành lập ngày 2/3/1965 tại sông Đồng Nai, thuộc chiến khu Đ, còn gọi là trung đoàn Đồng Nai. Trung đoàn trưởng là anh Năm Tâm (Trần Minh Tâm), chính ủy là anh Ba Kỷ (Đặng Kỷ). Trung đoàn toàn lính tình nguyện miền Đông và khung cán bộ “Mùa thu”. Gọi là lính “Mùa thu” vì trong bài hát “Nam Bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn có câu “Mùa thu này, ngày 23, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”. Anh em đi lính từ ngày ấy, nên gọi là lính “Mùa thu”. Họ đã lớn tuổi lại từ miền Bắc trở về nên có chút kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu, hầu hết đã học qua trường Lục quân Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây.
 

Trong hai trung đoàn này thì trung đoàn 4 đóng quân gần sư bộ nhất, chỉ đi hết hai ngày là tới “Dốc 30” trên đường 20, vượt đường, vượt lô cao su là vào tới rừng rậm “Tam giác Sắt”. Khu rừng này nằm lọt trong một tam giác có 3 cạnh là ba huyết lộ: lộ 20, lộ số 1 và tỉnh lộ Biên Hòa (đường 16 Bình Mỹ-Tân Uyên). “Tam giắc Sắt” là cánh cửa bảo vệ phía Nam chiến khu Đ, chỉ cách sân bay Biên Hòa 4 km, cho nên địch đánh phá ác liệt và trung đoàn 4 cũng chiến đấu ngang ngửa, giành nhiều chiến công, được tặng danh hiệu “Trung đoàn Quyết Thắng”.
 

Bộ chỉ huy sư đoàn 5 đóng ở khu rừng Buông thuộc Bà Rịa, giáp Lâm Đồng (nay là rừng cấm thiên nhiên quốc gia Cát Tiên). Cây Buông giống cây cọ, nhưng thấp hơn, lá nó to bằng chiếc chiếu đôi, vì thế ở đây suốt ngày không thấy mặt trời; mà đã kín như thế thì chỉ tổ sốt rét. Nhớ trận sốt rét tháng 4, tôi sợ quá nên ngay khi vừa tới sư bộ vội xin xuống đơn vị chiến đấu. Anh Năm Truyện tư lệnh sư đoàn, anh Sáu Lựu (sau này là trung tướng Nguyễn An) chính ủy sư đoàn bảo tôi: ”Trung đoàn 5 đang dưỡng quân, trung đoàn sắp mở chiến dịch. Cậu xuống trung đoàn 4 thì có cái mà viết; nhưng từ từ hẵng đi.”
 

Anh Năm Truyện còn có tên “Năm Sài Gòn”, vì khi còn làm trung đoàn trưởng trung đoàn 1 đánh trận Bình Giã đầu năm 1965, sở chỉ huy của anh lấy mật danh “Sài Gòn”. Tên anh là Nguyễn Thế Truyện, người cao ráo sáng sủa, đeo kính trắng, ăn nói nhỏ nhẹ dễ gần. Anh rất được các anh trong Bộ Tư lệnh Miền như các anh Sáu Di (Nguyễn Chí Thanh), Tư Chi (Trần Văn Trà), Ba Long (Lê Trọng Tấn), Chín Vinh (Trần Độ), chị Ba Định, anh Năm Thạch (Hoàng Cầm) v.v… cưng chiều. Anh là cán bộ cấp cao nhất của “Việt Cộng” dám đóng giả đại thương gia, đi đường công khai từ Bàu Đồn Tây Ninh theo quốc lộ 1 vào Sài Gòn để nghiên cứu việc bố phòng sân bay Tân Sơn Nhất, chuẩn bị cho quân ta tấn công trong dịp Tết Mậu Thân 1968. Người đưa đường cho anh là anh Ba Lễ, chủ tịch Ủy ban Cựu chiến binh trong Thượng viện Sài Gòn, một tình báo viên của ta. Anh Năm Truyện hy sinh ngay đợt đầu Mậu Thân, khi giữ chức Tư lệnh Phân khu I (cánh quân Tây Bắc Sài Gòn), bởi người đồng chí của anh là thượng tá chính ủy Tám Hà ra chiêu hồi địch ngày 4/2/1968 đã chỉ đường cho xe tăng Mỹ vây Sở Chỉ huy Phân khu đóng ở đồng mía gần gò Chùa.
 

Trông anh Năm đeo kính trắng, đi đứng khoan thai giống vị giáo sư đại học hơn là sư trưởng. Anh bảo tôi: “Câu dân Hà Nội, chưa ngửi mùi súng đạn, liệu có chịu được B52 và ‘dàn nhạc Tân Tây Lan’ không ? Tớ hỏi thật đấy !”
 

Khi tôi xuống sư đoàn thì trước đó gần một tháng, thiếu tá Lê Xuân Chuyên trưởng ban tác chiến sư đoàn đã ra chiêu hồi đich ở Bình Châu, ẵm theo toàn bộ bản đồ tuyệt mật của ta. Nhìn tờ truyền đơn in hình hắn nắm tay người yêu mặc áo dài đứng bên cầu La Ngà mà thấy ghét. Từ ngày Chuyên ra hàng, B52 dội bom liên tục mọi chỗ nghi có quân ta. Có lần tôi đi tải gạo, khi về gần tới cứ thì dính B52. Tôi liền ngồi lọt vào gốc cây bằng lăng, che bao gạo lên đầu, chắc 10 phần chết 9. Bom nổ rầm trời. Lúc ấy là 9 giờ sáng (B52 ít đánh ban ngày). Vậy mà tôi không hề hấn gì mới lạ chứ ! Ba tốp B52, mỗi tốp ba chiếc, mỗi chiếc thả 25 tấn bom, vị chi 9 chiếc trút xuống 225 tấn bom. Đúng như lính ta vẫn động viên nhau: “B52 ném bom vào đội hình, chưa chắc đã trúng; nếu trúng cũng chưa chắc đã chết”. Bom vừa dứt, tôi bỗng thấy một tổ ong dài hơn một mét vẫn bám vào cành cây, ong bay vù vù, phải hàng vạn con chứ không chơi. Nó mà đốt thì chỉ có chết. Sợ quá, tôi vác bao gạo, cứ thế chạy ngược trở lại vệt bom nổ vừa rồi (vì B52 chỉ ném bom đi chứ không ném trở lại).
 

Đêm ấy về tới Cứ, ai cũng ngạc nhiên, vì tôi ở giữa vệt bom mà không chết; trong khi đó hai chị nuôi đi cùng, cách không xa lại mất xác. Sơm hôm sau, anh Năm và anh Sáu sang úy lạo đoàn tải gạo. Anh Năm vỗ vai tôi, cười ruồi: “Lính mới có khác, B52 không sợ, lại sợ mấy chú ong con.” “Báo cáo, ong bắp cày to bằng đốt ngón tay út, chứ không phải ong con đâu ạ !” Anh Năm cười lớn: “Đừng huyên thuyên ! Ong bắp cày làm tổ nhỏ và thấp, khi vỡ tổ bao giờ cũng tấn công tất cả cái gì động đậy xung quanh. Cậu mà đụng nó ấy à, toi lâu rồi ! 5 con ong bắp cày đốt chết một con trâu mộng, nhớ chưa ! Đàn ong cậu thấy là ong mật. Ong mật tổ dài, làm tổ trên cây cao, khi bị vỡ tổ nó bay ra tứ phương để hút mật bị rơi vãi đem về nuôi ong chúa. Nhờ thế mà cậu mới về được tới đây. Thế còn nhớ chỗ tổ ong không ? Đưa anh em ra lấy mật. Tổ dài thế thì mật nhiều lắm đấy !”
 

Còn “Dàn nhạc Tân Tây Lan” là gì ? Đầu năm 1965, lữ đoàn bộ binh Hoàng gia số 1 của Úc và tiểu đoàn pháo binh hạng nặng Tân Tây Lan vào Miền Nam Việt Nam, đóng quân ở Núi Đất, Bà Rịa. Lữ đoàn là trung đoàn tăng cường thêm một tiểu đoàn cơ giới, một tiểu đoàn pháo binh, hai đại đội công binh, nên quân số của nó bằng hai trung đoàn của ta. Bon Úc mới sang, muốn ra oai với đàn em Hàn quốc, Thái Lan, ngụy quân, nên chúng đánh nhau khá gan dạ. Trung đoàn 4 cùng bộ đội địa phương quyết đánh trận phủ đầu, dạy cho nó một bài học. Chẳng ngờ, vùng Núi Đất địa hình trống trải, Mỹ lại chi viện phi pháo tối đa, kể cả hải pháo 203 ly (mỗi quả đạn nặng 90kg, lắp đạn bằng máy nâng) từ chiến hạm đậu ngoài biển Đông cũng bắn chi viện. Đặc biệt lợi hại là tiểu đoàn pháo binh Tân Tây Lan oanh tạc pháo bầy, tức 24 khẩu 155 ly bắn cấp tập không nghỉ. Trận ấy quân ta thương vong khá nặng, hơn 600 người, đến nỗi bệnh viện quân y 1500 (của đoàn hậu cần chiến khu Đ555, sau đổi phiên hiệu là đoàn 1500) lớn cỡ nhất Miền Đông cũng không còn chỗ cho thương binh điều trị. Tôi đã đến quân y 1500 và thấy đúng là không còn chỗ cho thương binh nữa.
 

Năm 2005, nghe nói có đoàn cựu chiến binh Úc dự trận Núi Đất năm xưa xin phép ta được thăm lại chiến trường cũ cách nay đã 40 năm, nhưng ta từ chối, vì không muốn gợi lại vết thương cũ. Vả lại quan hệ Việt-Úc ngày nay đang phát triển tốt đẹp.
 

Sau trận Núi Đất tháng 3/1965, tên gọi “Dàn nhạc Tân Tây Lan” xuất hiện, để chỉ trận oanh tạc pháo hạng nặng của địch, kiểu pháo bầy, chả cứ là của Tân Tây Lan. Muốn dựng được “Dàn nhạc Tân Tây Lan’ thì phải có nhiều đạn, mà muốn có nhiều đạn thì phải có nhiều tiền. Ai nhiều tiền ? Mỹ chứ còn ai ? Nghe nói một trái đạn 155 ly giá những 2 cây vàng, “Việt Cộng” ta lấy đâu ra tiền để dựng “Dàn nhạc Tân Tây Lan” ? Anh Phan Lĩnh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 trung đoàn 209, là trung đoàn đánh trận mở màn Điện Biên Phủ lẫy lừng năm xưa, gặp tôi trong trận Cầu Vịnh, Tây Ninh năm 1968, sau khi nghe tôi kể chuyện “dàn nhạc Tân Tây Lan” ở Núi Đất, anh bảo tôi: “Hôm tớ đánh trận Him Lam ở Điện Biên năm 1954, 24 khẩu pháo 105 ly của ta do Trung Quốc viện trợ, chở từ Côn Minh, Vân Nam về; cố vấn Trung Quốc ngồi tại chỗ chỉ huy bắn, cũng chỉ dám bắn có 1.000 quả đạn. Ấy vậy mà tên quan tư chỉ huy pháo binh Pháp đã phải tự sát rồi. Huống hồ bây giờ bọn Tân Tây Lan bắn 5.000 quả trong một trận đánh thì hãi thật, mà lại là đại pháo 155 ly nữa chứ ! Hãi thật, hãi thật !” …
 

Tháng 11/1966 tôi được xuống trung đoàn 4. Mùa khô, trời xanh ngắt, những cây lá lụa trải dài bên đường, lá lụa óng ả, khi mới ra lá thì màu nâu sẫm, sau chuyển sang màu trắng sữa, cuối cùng chuyển thành màu xanh. Lá có vị bùi, chua, chát, ăn nó với mắm cá sặc thì quên chết. Lính ta ở chiến khu Đ thích ăn lá lụa lắm, mà ở đây lại nhiều lá lụa. Nhìn lá lụa trắng bóng dưới trời chiến khu Đ, lòng bỗng rạo tực yêu đời, yêu thiên nhiên bao la che chở ta lên đường giết giặc. Trung đoàn 4 đóng quân trong khu rừng tam giác, mỗi cạnh là một con đường: đường số 16 Bình Mỹ-Tân Uyên, đường số 1 và đường số 20. Ở đây bom đạn suốt ngày, các trận đánh xảy ra liên tục; ta địch giằng co nhau, ta giữ, địch cướp, chúng cố đẩy bằng được ta ra, vì đây chỉ cách Sài Gòn có 30km, tới sân bay Biên Hòa có 4km. Do đó cả địch và ta đều gọi là “Tam giác sắt” án ngữ cửa ngõ phía Nam chiến khu Đ.
Vậy chiến khu Đ là gì mà cả nước ai cũng biết tiếng ? Chiến khu Đ ra đời tháng 2/1946 trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến. Ngày ấy nó chỉ gồm 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, thuộc huyện Tân Uyên tỉnh Biên Hòa, gọi chung là vùng Đất Cuốc – chữ Đ là chữ cái đầu của chữ Đất Cuốc, mà cũng ngụ ý chỉ chiến khu Đảng, chiến khu Đỏ, để phân biệt với các chiến khu khác ở Nam Bộ ngày ấy không phải của ta, mà là của các giáo phái khác cùng chống Pháp, như Bình Xuyên của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn), Cao Đài của Phạm Công Tắc, Hòa Hảo của Ba Cụt (Lê Quang Vinh) v.v…
 

Chiến khu Đ ban đầu là nơi đóng quân của bộ đội Huỳnh Văn Nghệ, người nổi tiếng bởi đã viết câu thơ:
 

Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

 

trong bài thơ Nhớ Bắc ông viết năm 1948.
 

Trong kháng chiến chống Pháp, chiến khu Đ càng mở rộng, lúc đầu là Đất Cuốc, sau lan sang cả huyện Hiếu Liêm Bến Cát thuộc Thủ Dầu Một. Kháng chiến càng lâu, chiến khu Đ càng rộng. Đến năm hòa bình 1954 đã vươn lên tới Tà Lải, Mã Đà, Suối Linh, rộng gấp 6 lần lúc đầu. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, khi quân ta vừa rút hết ra Hàm Tân, Xuyên Mộc (Bà Rịa) để lên tàu Ba Lan tập kết ra Bắc, thì địch lập tức tràn vào chiến khu Đ ngay. Chúng nhanh chóng xây dựng đồn bốt, lập hội đồng hương chính, thành lập bảo an, dân vệ để kìm kẹp dân. Địch đưa 1.500 dân di cư công giáo miền Bắc thuộc hai tỉnh Thái Bình, Hưng Yên vào giữa lòng chiến khu Đ, lập ra xa Thái Hưng. Ngoài quốc lộ 1, quốc lộ 20, đường 16 bao quanh chiến khu, địch điều 200 nghìn dân di cư công giáo, cho ở rải ra làm thành thế bao vây toàn vùng căn cứ của ta. Ngoài việc dồn dân, lập ấp, Ngô Đình Diệm còn cho Trần Lệ Xuân độc quyền khai thác gỗ vùng này. Thế là chiến khu Đ bị băm nhỏ bởi những con đường ngang dọc, những xưởng cưa, bãi Be (bãi đỗ xe tải hạng nặng) chi chít. Có thể nói, từ năm 1954 đến 1955, địch kiểm soát hoàn toàn vùng đất này. Nhưng chiến khu Đ không chết.
 

Tháng 5/1955, quân Diệm với những sĩ quan hàng đầu như trung tá Dương Văn Minh, Tôn Thất Đính, Huỳnh Văn Cao v.v… mở cuộc tấn công quân Bình Xuyên của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) ở giữa Sài Gòn. Chiến sự ác liệt diễn ra suốt từ cầu Tân Thuận lan sang toàn bộ quận 8. Quân Bình Xuyên đại bại, tháo chạy về Rừng Sát huyện Long Thành. Tháng 8 cùng năm, Diệm mở tiếp chiến dịch Hoàng Diệu, bao vây Rừng Sát hòng bắt sống Bảy Viễn, như đã bắt được Ba Cụt trước đó và đem chặt đầu ở chi khu Cái Vồn. Biết ngày tàn của mình đã điểm, Bảy Viễn cho lính tự giải ngũ về nhà; phần mình thì mang vàng và tiền cùng hai đàn em thân tín là Lại Hữu Sang và Lại Hữu Tài trốn ra biển Đông, lên tàu sang Pháp, cuối cùng chết ở tuổi 66 tại Paris.
 

Trước đây, trong kháng chiến chống Pháp, Bảy Viễn từng kết nghĩa anh em với Huỳnh Văn Nghệ và cùng chống Pháp, mãi đến năm 1949 mới ra hàng Pháp. Nay nhớ tình nghĩa xưa với cách mạng, vả lại cũng muốn để lại chút tiếng thơm cho đời nên Bảy Viễn quyết định tặng ta một tiểu đoàn Bình Xuyên gồm 200 quân với đầy đủ vũ khí bén. Tham mưu trưởng lực lượng Bình Xuyên là trung tá Võ Văn Môn (Bảy Môn) không hàng Diệm, đưa tiểu đoàn này về chiến khu Đ cùng ta chống địch tới cùng. Về sau Bảy Môn trở thành Ủy viên Trung ương Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Năm 1965 anh mất vì sốt rét.
 

Cuối năm 1956, anh Bảy Tâm bí thư đảng bộ nhà lao Tân Hiệp (Biên Hòa) lãnh đạo 400 tù nhân ở đây nổi dậy cướp súng giặc, phá trại giam; 21 người đã ngã xuống, trong đó có nhà thơ Dương Tử Giang; số còn lại kéo cả về chiến khu Đ sát cánh cùng bộ đội Bảy Môn tổ chức thành hai tiểu đoàn chống Diệm từ đó. Đây là đốm lửa đầu tiên của cách mạng Miền Đông võ trang khởi nghĩa. Các anh Lâm Quốc Dũng (Tám Den), Lê Thanh (Tám Kiến Quốc), Bảy Tâm, Ba Thuấn, Sáu Chuông, Hai Cà là những cán bộ đầu tiên có công hồi sinh chiến khu Đ. Sau cuộc đồng khởi toàn Miền Nam năm 1960, các chiến khu khác lần lượt ra đời, như chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh), U Minh (miền Tây), Bảy Núi (An Giang) v.v…nhưng chiến khu Đ là mạnh nhất, vì nó thông với Tây Nguyên, nối trực tiếp đường Hồ Chí Minh từ Bắc, lúc ấy đã vào tới đây. Đến thời chống Mỹ, chiến khu Đ mở rộng lên tận biên giới Cămpuchia, giáp Đắc Lắc, rộng vài nghìn km vuông, đổi tên thành chiến khu A. Vùng căn cứ Thị Tính, Long Nguyên (huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một), gọi là khu C. Vùng căn cứ núi Mây Tàu, Hắt Dịch, Rừng Sát, sông La Ngà là chiến khu E. Toàn bộ các chiến khu A,B,C,E gộp lại thành một căn cứ lớn nhất Miền Nam.
 

Tôi vào B có vinh dự đi ngang dọc suốt vùng này, đó chính là Miền Đông Nam Bộ. Sau ngày 18/3/1970 Lon Non làm đảo chính lật nhào Xi-ha-núc, bộ đội ta tràn vào Cămpuchia, tôi lại ngang dọc khắp xứ Angco. Thế là thời trai loạn của tôi đã mãn nguyện lắm rồi.
 

Tôi ở Trung đoàn 4 từ tháng 11/1966 đến tháng 5/1967 thì về R. Thời gian không nhiều nhưng đầy ắp kỷ niệm, xin kể ra đây hầu các bạn.

 

H.B.

(LSV st & g/th)


video, tâm sự, giải trí

Viết bình luận


Bình luận


Đinh Tiến Sỹ
    

29/06/2017 16:13:31

Chào anh Linhsinhvien

Chào chú Línhsinhvien

Đọc bài của chú nhận thấy chú là người được chiến đấu nhiều năm ở vùng Đông Nam Bộ, qua đó rất hiểu lịch sử vùng này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. cháu là người con của một Liệt sỹ đã có thời gian chiến đấu ở miền đông nam bộ, với mong muốn được hiểu biết những gì Bố cháu và các đồng đội đã chiến đấu và hy sinh, xin chú hãy viết những gì chú biết về trung đoàn pháo binh 724 ( trung đoàn pháo hỏa tiễn) quãng năm 1969, 1970. Đơn vị bố cháu là C10, 274 Bà Rịa, B2. 

Điện thoại của cháu là: 0973 073 666

Kính chúc Chú mạnh khỏe, hạnh phúc

Có thể bạn sẽ thích