Hồi ký chiến trường_1/40 (VTK)

Miền Tây trung dũng kiên cường

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG

(E207, QK8, Miền Tây Nam Bộ)

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

Nhân dịp kỷ niệm 68 năm thành lập QĐNDVN, 40 năm ngày nhập ngũ và đi B của các đồng đội LSV CCB F304B, Quân khu Việt Bắc. Được sự đồng ý của tác giả, LSV xin trân trọng giới thiệu với đồng đội và bạn hữu bộ HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG của tác giả Vũ Trung Kiên – CCB Trung đoàn 207, Quân khu 8, Miền Tây Nam Bộ.

*******************

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG (Bài 1)

VŨ TRUNG KIÊN (CCB E207, QK8)

 

Lời tựa: Đúng vào lúc. Sau 38 năm chúng tôi tìm được nơi 291 cán bộ chiến sỹ của Trung đoàn 207 hy sinh tại Rạch Đá Biên. Thì trang WEB của đơn vị ra đời. Bởi nôn nóng muốn cho đồng đội và bạn bè biết được những chiến công oanh liệt và sự hy sinh mất mát của Trung đoàn. Tôi liền thức sáng đêm ra ngay một bản “Tổng kết” mà mình tự cho là “hồi ký”.

Nhưng nhờ biết “khôn” và dè dặt tôi đã gửi trước cho bạn bè tham khảo. Được cháu Hiền Lương tư vấn, chỉ dẫn và lại còn khích lệ “Cố gắng lên chú Tư nhé! Để lại cho con cháu mai sau biết về quá khứ của ông cha, của các chú…”

Cũng phải mất một thời gian so đi, tính lại. Tôi bắt đầu viết và phải làm lại từ đầu.

“Hồi ký” phác thảo trong đầu 100% sự thật tôi chứng kiến của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 207. Trung đoàn của tôi đã có trên 2000 cán bộ, chiến sỹ ngã xuống nơi chiến trường khốc liệt trong thời gian trực tiếp chiến đấu với.

-Quân Mỹ;

-Quân ngụy Lon non;

-Quân ngụy Sài gòn;

-Quân Pôn pốt.

Với 3 tên gọi.

Trước khi mang tên Trung đoàn 207.

Lúc mang tên Trung đoàn 207.

Sau khi đổi tên Trung đoàn 207.

Vậy mong đồng đội và bạn bè tham khảo đóng góp.


PHẦN I: TIỀN THÂN CỦA TRUNG ĐOÀN VÀ TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN

17 giờ ngày mồng 5 tháng 8 năm 1969, đoàn tàu quân sự khởi hành từ ga Thường Tín, từ từ lăn bánh. 8 toa tàu chứa khoảng trên 500 cán bộ, chiến sỹ của đoàn “Đi B”mang số hiệu 1125 (là 1 Tiểu đoàn hoàn chỉnh được tổ chức biên chế Từ A đến D) còn vài toa sau chở hàng quân sự. Trên nóc mỗi toa đều cắm cờ nửa đỏ, nửa xanh phần phật tung bay. Đoàn tàu ra khỏi ga vẫn còn chạy chầm chậm cặp quốc lộ 1, bên trái đường nhân dân đã ra đứng đông nghẹt vừa hò hét vừa vẫy tay tiễn đưa những người con ưu tú vào chiến trường chiến đấu.

Chúng tôi thì chen nhau chui đầu qua các cửa sổ toa tàu, miệng cười tươi như hoa. “Các bố, các mẹ ở lại mạnh khỏe nhé, chúng con đi đây, hết giặc là chúng con về, các em ở nhà chờ các anh nhé, đừng có vội lấy chồng đấy”… Rất nhiều những khuôn mặt của những thiếu nữ xinh đẹp, thoáng buồn và nuối tiếc. Vậy là thêm một đoàn quân toàn những thanh niên trai tráng ra trận và không biết bao giờ mới trở lại.

Sau hơn 6 tháng ròng rã lúc đi tàu, lúc đi xe tải quân sự, lúc bằng xà lan, và phần nhiều bằng đi bộ, lại còn lòng vòng nghi binh nữa chứ. Đến tháng 2/1970 đoàn đi B đã đến khẩu 7 (K7).

Khác với những lần trước, cán bộ khung được quay ra Bắc tiếp tục nhận quân vào, lần này chỉ có cán bộ cấp D trở ra còn lại C + B được ở lại bổ sung cho các đơn vị chiến đấu. Đoàn chúng tôi được bàn giao ngay cho Trung đoàn 141 Sư đoàn 7 và tôi được bổ sung về Tiểu đoàn 2 (Sau này là tiểu đoàn nòng cốt thành lập Trung đoàn 207). Tôi và gần 30 chiến sỹ mới được điều về Đại đội 6, và chính thức nhận nhiệm vụ chính trị viên phó Đại đội.

Ban chỉ huy Đại đội lúc này gồm 6 người.

-Anh Lộc đại đội trưởng;

-Anh Đỉnh chính trị viên;

-Anh Ưng Đại đội phó;

-Anh Nhưng Đại đội phó;

-Anh Thiệp chính trị viên phó;

Và tôi chính trị viên phó, cả 5 anh đều đã lớn tuổi hơn tôi và đã trải qua nhiều trận chiến đấu, riêng tôi thì mới toanh.

Đơn vị tôi đóng quân trong rừng cây rậm rạp nằm khu vực K7 (khẩu 7). Cách sông Băng khoảng 10km, cách đường giao liên khoảng 30 km về hướng đông, nhìn trên bản đồ tôi xác định toạ độ chúng tôi rất gần Lộc Ninh- An Lộc có trận địa pháo của địch Cà Tum mà bộ đội ta thường gọi là “Dàn nhạc Tân Tây Lan”. Gồm 24 khẩu pháo từ 155 đến 203. Đụng chuyện là nó vãi đạn nổ như bắp rang “Pháo Mĩ mà”, đủ các loại đạn khoan, đạn nổ, đạn chụp. Tôi được bố trí ngủ chung hầm với anh Lộc và 04 đồng chí chiến sỹ. Một cái hầm tránh B52 nắp dày tới gần 1 mét, có 2 cửa lên xuống 2 đầu. Bên dưới được cắm 6 cọc đều và thẳng tắp để cho 6 người chúng tôi giăng võng làm 2 tầng, võng người trên gần sát bụng người nằm dưới. Trên nắp hầm là một nhà lọp bằng lá trung quân, giữa có cái bàn tre và ghế ngồi cũng bằng tre để lâu lâu chui lên “dạo” cho đỡ ngột ngạt.

Khẩu phần ăn đầu tiên của C Bộ (Đại đội Bộ) hơn chục người là 1 thau đậu xanh luộc có thêm chút muối và cứ vậy liên tiếp 7 ngày liền, chẳng có hột cơm nào vào bụng. Cấp trên trả lời kho gạo bị B52 nó nện cháy hết nên cấp tạm đậu xanh để ăn thay cơm vậy. Xuống các hầm lán Trung đội, Tiểu đội nhìn cảnh anh em ráng nuốt đậu và thèm cơm muốn không chịu nổi mới thấy thương làm sao! Vừa nơm nớp sợ B52 nó giã, pháo khoan nó thục vì 1 ngày đêm cả chục loạt B52 ném rất gần, có khi chỉ cách 1 vài km. Bộ đội ta lai phải thay phiên nhau chốt canh gác đêm ngày, đề phòng biệt kích, thám báo nó “phệt”.

Ăn uống đã vậy còn cái nạn thiếu nước. Vì đang giữa mùa khô nên các khe suối đều cạn nước. Cả Tiểu đoàn chỉ có 1 giếng sâu chừng 30 mét. Vì giếng nhỏ, rất ít nước nên phải phân phối đều cho các Đại đội. 1 ngày hơn trăm con người được chia 5 tăng nước (tăng ở đây là loại cao su mủ dầy để che mưa, được cột vào một cái cây giống như võng và đổ nước vào cho 2 người khiêng). Chỉ đủ cho ăn, uống còn tắm giặt thì miễn bàn. Bộ đội cứ thay phiên nhau 5 ngày mới tới lượt ra tận sông Băng tắm giặt khi về quảy được 1 ít nước đem cho những đồng chí ở nhà.

Ngày 18/3/1970 Bọn Lon non đảo chính Hoàng Thân Xi Ha núc và ngay sau đó quân Mỹ - Quân ngụy Sài gòn + Ngụy Lon non phối hợp mở trận càn Đông Dương. Đến thời gian này 3 nước Đông Dương: Việt Nam, Lào, Campuchia đều có chung kẻ thù.

Ngày 25/3/1970, Trung đoàn được lệnh đánh chiếm Mi Mốt và ngày 29/3/1970 đánh chiếm Xin Nun bức hàng 4 Tiểu đoàn quân ngụy Lon non ở 2 vị trí này để mở rộng hành lang biên giới. 2 trận đánh này tôi chỉ được ở phía sau phụ trách hậu cần vì các anh cho mình là “lính mới”.

Cuộc càn Đông Dương ngày càng khốc liệt cả 3 sư đoàn 5 + 7 + 9 của ta ở Miền đông vừa đánh vừa rút để bảo toàn lực lượng.

Đến cuối tháng 5/1970, đơn vị chúng tôi đang dừng trú tại rừng cao su (gần đó có nhà máy đường). Sát chúng tôi là một cánh đồng mía rộng khoảng 5km, lúc này đã thu hoạch mía nên cánh đồng trống. Bên kia cánh đồng là một rừng le liên hoàn tới Biên giới, (Le là loại ở Miền Đông, giống như trúc nhưng nó lại thấp lè tè chỉ độ 2- 3 mét, măng của nó ăn rất ngon).

8 giờ sáng ngày 23 tháng 4, quân Mỹ dùng 21 chuyến máy bay vận tải Quân sự (loại sâu đo có 2 chong chóng), cẩu 21 xe tăng thả ngay xuống rừng le bên kia trảng trống ý định của chúng kẹp đơn vị tôi vào giữa. Vì dưới mặt đất đang có một mũi “càn” gồm cả xe tăng Mỹ kết hợp cùng bộ binh đã cách chúng tôi khoảng 10 km. Nhưng ngày hôm đó bị đơn vị bạn phục kích chặn đánh. Do vậy chúng chưa thể thực hiện được ý đồ. Bộ đội được lệnh sẵn sàng chiến đấu nhưng đến chiều chúng vẫn nằm êm trong cánh rừng le, để chờ cánh quân mặt đất tới. 16 giờ, đồng chí Lộc và tôi đích danh được mời lên Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ.

Trung đoàn chỉ lệnh “Đêm nay Tiểu đoàn 2 tập kích cụm xe tăng Mỹ. 1/3 Ban chỉ huy các cấp, 1/3 quân số đơn vị thật tinh binh”. Vậy là Trung đội trinh sát được tung đi ngay để bám địch.

17 giờ đơn vị họp chi bộ khẩn cấp ra nghị quyết trận đánh, sau đó họp Hội đồng quân nhân. Quân số tham chiến và sử dụng hoả lực cũng được phổ biến ngay trong cuộc họp này. Đối với anh Loc thì tỉnh bơ vì đã dày dạn quá nhiều trong chiến đấu, riêng tôi thì vừa lo, vừa sợ. Đọc được suy tư của tôi nên anh Thiệp quyết định đi thay, nhưng điện lên Tiểu đoàn không được chấp thuận. Anh kéo tôi ra riêng một chổ vắng người và vỗ về an ủi tôi như một đứa em: “Kiên cứ bình tĩnh, đừng sợ, đừng lo….đã có anh Lộc…rồi em sẽ quen ngay thôi mà”.

19 giờ cơm nước no nê bộ đội được tạm nghỉ chờ lệnh xuất kích.

Tôi và anh Lộc giăng võng cạnh nhau ở mấy gốc cây cao su. Mới nằm một chút anh Lộc đã ngáy khò khò… Riêng tôi thì không sao chợp mắt. Trong đầu lúc này cứ quay cuồng… Hình dung và tưởng tượng cho trận đánh sắp tới: “Trận đánh đầu tiên trong đời”. Nó diễn biến như thế nào? Rồi kết cục sẽ ra sao? Mình còn sống hay chết? Bỗng nhớ nhà, nhớ quê hương một cách khủng khiếp.

Tôi sanh ra ở Nam Định nhưng mẹ lại quê Thái Bình và bố ở Hà Nội. Hồi còn nhỏ ở nhà thỉnh thoảng vẫn được bố đưa về thăm quê nội, và được mẹ đưa về thăm quê ngoại. Cả ba mỗi nơi một vẻ: xôn xao và lộng gió, ồn ào và tấp nập, rộng rãi và bình yên… Rồi thiếp đi từ lúc nào.

Bỗng 2 võng chúng tôi bị giật tung lên. Mở mắt ra thì là anh Đỉnh.

- “Dậy đi 2 cha, đến giờ rồi.”

Tôi nhìn đồng hồ (chiếc Pôn Giốt do Liên Xô chế tạo) lúc này là 24 giờ. Tiểu đoàn thông báo: “Trinh sát đã bám được địch, bộ đội xuất kích”.

Hơn 20 khẩu B40 + B41, mỗi khẩu có 1 AK đi kèm. Tôi và anh Lộc, 2 người có 2 súng ngắn và 2 liên lạc.

Đội hình hành quân ra khỏi rừng cao su đến bìa trảng trống thì dừng lại. Cuộc họp khẩn cấp lại được triệu tập ngay bìa rừng. Trên tấm bản đồ tác chiến mới phác thảo do đồng chí Tiêu, quyền tiểu đoàn trưởng, vạch rõ.

Đại đội 5 hướng đông.

Đại đội 6 hướng tây.

Đại đội 7 hướng bắc.

Đại đội 8 gồm 2 DKZ57 + 2 DKZ75 (do trung đoàn tăng cường) hướng nam.

Chúng tôi lần lượt vượt qua trảng trống như 4 mũi tên ngoằn ngèo, luồn lách áp sát trận địa địch.

Ở hướng đại đội 6, chúng tôi được 2 trinh sát dẫn đường. Anh Lộc đi đầu đoàn quân và thứ tự: trung đội 1, trung đội 2, trung đội 3, tôi đi cuối đoàn quân. Chúng tôi bí mật chiếm lĩnh trận địa, lúc đi thẳng, lúc đi khom. Tới 4h sáng thì dừng lại (tổ trinh sát dẫn đường đã gặp tổ trinh sát bám địch). Trinh sát bám địch cho biết lúc này ta đã ở rất gần địch còn cách độ 300m. Trận địa địch được bố trí phòng thủ hình bầu dục. Hỏa lực tỏa ra 4 hướng và ở giữa là tốp xe tăng chỉ huy. Mỗi xe bố trí cách nhau khoảng 30m, bộ binh địch đào công sự trước xe từ 15 – 20m. Anh Lộc phổ biến nhiệm vụ cho 3 trung đội trưởng. Bộ đội được triển khai đội hình vòng cung, tạo thành hình thế bao vây từ hướng tây và nằm im chờ lệnh. Tôi và anh Lộc nằm ngay sau lưng trung đội 1, bên trái là trung đội 2, bên phải là trung đội 3. Thời gian lúc này như đi chậm hơn bao giờ… Vẫn chưa được nổ súng vì còn đợi các đơn vị bạn và cũng chưa nhìn thấy xe tăng địch. Bò tới bò lui thế nào tôi vớ ngay được một ụ mối có đường kính độ 1m và nằm núp ngay sau. Tôi thầm an tâm: “Bố đạn nhọn của xe tăng cũng không xuyên nổi cái ụ đất này” nhưng con tim cứ nhảy thon thót… May mà được khoác cái tên: “Cán bộ C”… Nên cũng phải ráng… nếu không đã có thể “tè” ra quần rồi.

Giây phút chờ đợi cũng đã đến.

Khoảng 5h30 sáng, từ hướng nam trận địa, DKZ khai hỏa. Hàng chục quả đạn nã vào trận địa địch và chỉ lát sau các khẩu pháo tự hành, 12 ly 7 trên xe tăng địch đã quay ngoắt nòng sang hướng nam nhả đạn. Anh Lộc ra lệnh cho các trung đội tiếp tục phát triển về phía trước. Khoảng 10 phút sau, trước mặt trung đội 1 chiếc xe tăng đã lù lù xuất hiện. Đồng chí An trung đội trưởng trung đội 1 chớp ngay khẩu B40 của lính phụt một quả “Ùng…” cột khói trắng khỏa ngay trước mặt tôi và nghe xa xa…“Oàng”. Vậy là 7,8 chiếc xe tăng ở gần đó dồn hết hỏa lực trên xe về hướng trung đội 1, đạn nhọn của xe tăng và lính bộ binh xạt xạt trên đầu. Đạn M79 nổ inh tai nhức óc. Đồng chí An bị một mảnh đạn ghim ngay đầu máu chảy linh láng.

Bên trái và bên phải hướng trung đội 2 và 3 phát hiện được xe tăng cũng bắt đầu khai hỏa rồi tiếp đến hướng đại đội 5, 7 cũng đã nổ súng. Hỏa lực địch cũng phân tán dần dần.

Anh Lộc truyền lệnh đc Hùng trung đội phó trung đội 1 lên thay thế đc An. 3 chiếc xe tăng trước mặt của trung đội 1 vẫn toang toác bắn như vãi đạn, cộng với lĩnh bộ binh nằm dưới công sự bắn ra như mưa. Khẩu B41 của đc Toản trung đội 1 đã phụt hết 3 quả. Đc Hùng bò tới giằng lấy khẩu B41 trên tay đc Toàn đưa lên lấy đường ngắm bóp cò. Chiếc xe tăng cách độ 70m gục nòng ngùn ngùn bốc cháy. Chỉ lát sau hướng trung đội 2 và 3 xơi ngay 2 xe nữa…

Trận đánh vẫn tiếp tục tiếp diễn, hỏa lực của 2 bên mỗi lúc mỗi thưa trung đội 1 đã có 6 đc hi sinh trong đó có đc An trung đội trưởng. Trung đội 2 có 4 đc hi sinh và trung đội 3 co 5 đc hi sinh và nhiều đc bị thương.

Đến 7h sáng, trước mặt trận địa của đại đội 5, đại đội 7 đã có hơn 10 xe tăng địch bị diệt. Trước mặt đại đội 6, có 5 xe tăng địch đang bốc cháy. Và chỉ ít phút sau, hơn 10 máy bay phản lực chúi đầu ném bom. Gần 20 trực thăng vũ trang lồng lộn phóng rocket. Trận địa 2 bên mịt mù khói lửa: “Địch đã cho ném bom hủy diệt trận địa”.

Chúng tôi được lệnh nhanh chóng rút ra ngoài, chỉ đem được thương binh còn tử sĩ phải bỏ lại.

Cả ngày hôm đó trực thăng địch liên tục quần đảo và bắn phá tứ tung. Chúng tôi phải cắt vòng đường không thể vượt qua trảng trống. Ngay đêm đó rừng cao su trú quân bị 9 loạt bom B52 trãi thảm, nhiều căn hầm của bộ đội ta bị trúng bom.

Ngày hôm sau, chúng tôi được lệnh dời vị trí đóng quân cách đó độ chừng 5km và mãi tới ngày thứ 3 mới có dịp tổng kết điểm quân:

Trận tập kích, tiểu đoàn đã bắn cháy 16 xe tăng địch. Diệt gần 100 tên Mỹ.

Ta hi sinh 63 đc, bị thương gần 30 đc. Riêng đại đội 6 của tôi hi sinh 24 đc bị thương 9 đc.

Vậy là quân số được bổ sung đợt trước, mới sau 1 trận đánh coi như đã hết sạch, nhưng chúng tôi không lo: “Sẽ có tân binh mới vào bổ sung thay thế.” Vì tôi đã tận mắt chứng kiến trên đường Trường Sơn: “Điệp điệp trùng trùng” những đoàn quân cứ nối tiếp nhau ra trận. Rồi nhớ ngay 2 câu thơ được các đc binh trạm đường Trường Sơn căng ngang đường hành quân:

“Quân đi rung lá ngụy trang,

Xôn xao như sóng Trường Giang trùng trùng”.

Lúc leo núi dốc Nguyễn Chí Thanh, 2 khẩu hiệu to tướng lại đập ngay vào mắt như tiếp thêm sức mạnh cho bộ đội ta vững bước vượt Trường Sơn.

“Ý chí ta cao hơn núi Hạ Lào

Thù giặt Mỹ sâu thẳm hơn đáy sông Xê Pôn”.

Qua trận đánh đầu tiên, tôi đã trút bỏ được cái lo âu, nhút nhát của mình. Nhớ tới đồng đội hi sinh, nhớ tới quân Mỹ bị tiêu diệt. Trong lòng tôi đã trở nên phấn chấn. Muốn được tham gia ngay những trận đánh tiếp theo.

 

(còn nữa…)

LSV (g/th)

 

***

Xem các bài khác: bấm chuột phải vào tên bài và chuột trái vào "Mở liên kết trong tab mới":